THÁI NGUYÊN – Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực khi đóng góp hơn 60% GRDP của tỉnh, duy trì đà tăng sản xuất và tạo nền tảng để hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
- Lũ quét cuốn sập nhà hai tầng, gia đình sáu người thoát nạn
- Thiếu niên đăng tin sai sự thật bị phạt 3,75 triệu đồng
- Công ty thanh toán trở thành công cụ rửa tiền cho đường dây lừa đảo
Trong sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp của Thái Nguyên đạt 117,43% trong quý I và 122,25% trong quý II so với cùng kỳ năm trước. Riêng lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 120,28%, cao hơn mức tăng chung của toàn ngành và tiếp tục là động lực quan trọng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm.
Nhiều năm qua, Thái Nguyên lựa chọn phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo theo hướng hiện đại và công nghệ cao như một trụ cột của nền kinh tế. Khu vực này hiện đóng góp hơn 60% GRDP, đồng thời chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương.
Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì khi nhiều doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất. Theo ông Nguyễn Đình Việt, Phó Trưởng Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên, trong sáu tháng đầu năm 2026, tổng vốn đầu tư vào các khu công nghiệp của tỉnh đạt 8,009 tỷ USD, chiếm 32% tổng vốn đầu tư vào các khu công nghiệp trên cả nước. Trong đó có 16 dự án đăng ký tăng vốn với tổng giá trị 2,3 tỷ USD và phần lớn đều thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

(Ảnh minh họa: TNM)
Những con số này cho thấy khu vực chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh. Mỗi bước tăng trưởng không chỉ tạo thêm giá trị sản xuất mà còn lan tỏa đến thu ngân sách, xuất khẩu, việc làm cùng các lĩnh vực thương mại, dịch vụ và logistics.
Sự chuyển dịch cũng phản ánh thay đổi trong mô hình phát triển của Thái Nguyên. Nếu trước đây tăng trưởng công nghiệp chủ yếu dựa vào khai khoáng thì hiện nay động lực đã chuyển sang chế biến, chế tạo với giá trị gia tăng cao hơn.
Nhiều ngành sản xuất tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực trong nửa đầu năm. Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học đạt 121,18%, riêng quý II đạt 123,50%; sản xuất máy móc, thiết bị đạt 124,06%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy đạt 125,56%; sản xuất trang phục đạt 120,13%; sản xuất thiết bị điện đạt 102%; còn sản xuất và phân phối điện đạt 105,18%.
Những lĩnh vực này đều phù hợp với định hướng thu hút đầu tư của tỉnh khi tập trung vào các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Sự ổn định của các doanh nghiệp FDI quy mô lớn cùng tín hiệu phục hồi của thị trường điện tử thế giới tiếp tục tạo thêm dư địa tăng trưởng cho ngành công nghiệp địa phương.

Dù vậy, bức tranh phát triển vẫn còn những khoảng lặng. Một số ngành tăng trưởng chậm hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước, như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu đạt 55,76%; sản xuất đồ uống đạt 87,88%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại đạt 89,56%; chế biến gỗ đạt 85,19%. Lĩnh vực khai khoáng cũng chỉ đạt 108,10% trong quý II, thấp hơn đáng kể so với khu vực chế biến, chế tạo.
Điều đó cho thấy quá trình phục hồi giữa các ngành chưa đồng đều. Những lĩnh vực phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu truyền thống hoặc sức mua trong nước vẫn chịu tác động từ chi phí đầu vào, biến động thương mại quốc tế và nhu cầu thị trường chưa thật sự ổn định.
Đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 11% trong năm 2026, Thái Nguyên tiếp tục xem công nghiệp là động lực phát triển. Kết quả sáu tháng đầu năm cho thấy mục tiêu này có cơ sở khi công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn duy trì mức tăng trên 20%, nhiều ngành chủ lực bước vào chu kỳ đơn hàng mới, môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện và hạ tầng các khu công nghiệp ngày càng đồng bộ.
Nhìn từ những kết quả đã đạt được, công nghiệp chế biến, chế tạo không chỉ tạo thêm tốc độ tăng trưởng cho kinh tế Thái Nguyên mà còn góp phần mở rộng việc làm, phát triển dịch vụ và logistics. Mục tiêu của địa phương không dừng ở tăng trưởng nhanh mà hướng tới nền công nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững, nơi mỗi bước phát triển đều gắn với giá trị lâu dài cho nền kinh tế.
Nguyên Hương (Tổng hợp)
