Hồng da tre Thái Nguyên mở hướng phát triển kinh tế mới

Hồng da tre đang được người dân xã Đồng Hỷ gìn giữ, nhân giống và mở rộng diện tích khi nhu cầu thị trường tăng, mang lại giá trị kinh tế cao.

Tại xóm 8, xã Đồng Hỷ, những ngày vào vụ, gia đình chị Trần Thị Vân liên tục thu hoạch, phân loại và đóng hồng da tre để chuyển cho khách hàng. Sự thay đổi này diễn ra sau nhiều năm loại quả vốn chỉ được trồng trong vườn nhà bắt đầu được thị trường biết đến, với giá bán 80.000-120.000 đồng/kg và sản phẩm được tiêu thụ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa cùng một số địa phương khác.

Gia đình chị Vân hiện có hơn 100 gốc hồng, trong đó có những cây đã 60 năm tuổi. Mỗi cây cho khoảng 1-2 tạ quả, giúp gia đình thu về khoảng 200 triệu đồng mỗi vụ dù thời gian thu hoạch chỉ kéo dài khoảng 40 ngày.

“Cây hồng đã có từ rất lâu đời. Trước đây, mỗi nhà chỉ trồng vài cây, chủ yếu để gia đình ăn. Những năm gần đây, nhiều người biết đến hồng da tre và tìm mua nên nhu cầu tăng lên. Có những ngày gia đình không đủ nguồn hàng để phục vụ khách”, chị Vân nói.

Ở xã Đồng Hỷ, hồng da tre hiện có khoảng 13,5ha, phân bố rải rác tại các hộ gia đình. Cùng với Đồng Hỷ, giống hồng này còn được trồng ở một số địa phương khác của Thái Nguyên như La Hiên, Nam Hòa và Trại Cau.

Điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp giúp cây sinh trưởng tốt và tạo nên đặc điểm riêng của quả hồng da tre. Quả có kích thước khá lớn, trung bình 5-6 quả/kg, khi non có màu xanh và lúc chín chuyển sang vàng óng; phần thịt giòn, vị ngọt thanh, mát nên được người tiêu dùng tìm mua khi vào mùa.

Từ một loại quả chủ yếu phục vụ gia đình, hồng da tre dần trở thành sản phẩm có giá trị hàng hóa. Người mua không chỉ sử dụng trong gia đình mà còn chọn loại quả này làm quà biếu, trong khi một số hộ trồng hồng đã chủ động giữ lại cây lâu năm và nhân giống để tăng diện tích.

Chị Nguyễn Như Hoa ở Hà Nội là khách hàng thường xuyên tìm mua hồng da tre. Chị cho biết năm nào cũng chờ đến mùa để mua bởi vị ngọt mát, độ giòn và hương vị đặc trưng của loại quả này.

Với người dân địa phương, cây hồng không chỉ tạo thu nhập mà còn hiện diện trong đời sống qua nhiều thế hệ. Ông Lương Văn Cường, người dân xóm 7, xã Đồng Hỷ, năm nay ngoài 70 tuổi, cho biết khi ông sinh ra, trong vườn nhà đã có cây hồng da tre.

Trước đây, gia đình ông xem hồng da tre là cây ăn quả phụ, trong khi nhãn, vải và chè được chú trọng hơn. Gần 10 năm trở lại đây, khi thị trường quan tâm nhiều hơn đến quả hồng, ông chuyển hướng sản xuất và hiện có khoảng 30 cây cho thu hoạch, đồng thời tiếp tục tự nhân giống để mở rộng diện tích.

Nếu trước kia hồng da tre đứng sau nhiều loại cây khác về giá trị, hiện ông Cường đánh giá cây hồng đang đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trong vườn nhà. Sau cây hồng mới đến cây nhãn và những loại cây ăn quả khác.

Việc giữ cây và mở rộng diện tích không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu thị trường mà còn đòi hỏi kinh nghiệm chăm sóc. Theo những người trồng lâu năm, hồng da tre không chịu được úng và cũng không phù hợp với khô hạn kéo dài, vì vậy đất trồng cần cao ráo, thoát nước tốt.

Người dân chủ yếu chăm sóc cây theo phương thức truyền thống, sử dụng phân chuồng, phân hữu cơ và hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật. Thời điểm bón phân cũng ảnh hưởng đến khả năng đậu quả, chất lượng và độ bền của quả sau thu hoạch.

Hồng không cần được bón nhiều phân để thúc cây phát triển nhanh như một số loại cây khác. Nếu bón quá nhiều đạm, cây có thể phát triển mạnh về cành lá nhưng ảnh hưởng đến khả năng đậu quả, khiến sản lượng mỗi năm phụ thuộc đáng kể vào thời tiết và kinh nghiệm của người trồng.

Theo ông Vũ Văn Vụ, Trưởng xóm 7, xã Đồng Hỷ, đây là một trong những vùng lõi của giống hồng da tre. Cây hồng đã xuất hiện tại địa phương từ những năm 1970 và được người dân xem là giống cây bản địa của vùng đất này.

Có thời điểm hồng da tre được trồng khá nhiều trong các hộ gia đình, nhưng đầu ra khó khăn và quả chín nhanh, khó bảo quản khiến diện tích dần thu hẹp. Một số hộ chặt bỏ cây hồng để chuyển sang cây ngắn ngày hoặc những loại cây có thị trường thuận lợi hơn.

Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, khi thị trường biết đến hồng da tre nhiều hơn, giá trị kinh tế của loại quả này từng bước được khẳng định. Những gốc hồng già được giữ lại và chăm sóc, trong khi nhiều hộ tự nhân giống để khôi phục diện tích đã bị thu hẹp.

Quá trình khôi phục cũng có sự tham gia của hoạt động nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm. Từ năm 2021, tại xã Việt Cường, huyện Đồng Hỷ cũ, nay là xóm 7, xã Đồng Hỷ, Trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên đã triển khai dự án trồng hơn 2.000 gốc hồng da tre trên diện tích hơn 3ha.

Hiện diện tích này sinh trưởng và phát triển tốt, tạo cơ sở để từng bước hình thành vùng sản xuất và có nguồn nguyên liệu ổn định hơn. Trong khi đó, người dân địa phương tiếp tục duy trì những gốc hồng lâu năm và chủ động nhân giống để mở rộng diện tích.

Hồng da tre hiện chưa có hợp tác xã chuyên ngành, nên việc phát triển thành sản phẩm hàng hóa vẫn cần thêm những khâu liên kết. Từ sản xuất, chăm sóc, thu hoạch đến bảo quản và tiêu thụ, việc hình thành vùng nguyên liệu, tổ hợp tác hoặc hợp tác xã và tăng liên kết với doanh nghiệp có thể giúp người trồng chủ động hơn.

Quả hồng da tre được người dân Thái Nguyên gìn giữ và phát triển thành sản phẩm có giá trị kinh tế. (Ảnh minh họa: TNM)

Cùng với đó, quảng bá sản phẩm, xây dựng thương hiệu và truy xuất nguồn gốc là những phần việc cần được quan tâm nếu muốn nâng giá trị hồng da tre trên thị trường. Đây cũng là cơ sở để một giống cây từng chủ yếu nằm trong những khu vườn gia đình có thể trở thành sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của Đồng Hỷ.

Những gốc hồng lâu năm đang được giữ lại, trong khi cây mới tiếp tục được nhân lên từ chính các hộ trồng. Từ giá trị kinh tế đã được thị trường ghi nhận, hồng da tre đang có thêm cơ hội khôi phục giống cây bản địa và tạo nguồn thu cho người dân Thái Nguyên.

Mộc Linh (tổng hợp)