Tiếng Then và đàn Tính nối dài mạch nguồn di sản

Tại Thái Nguyên, nghệ nhân Đào Thị Thoa bền bỉ gìn giữ nghệ thuật hát Then, đàn Tính của người Tày, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống và mở hướng tiếp cận mới cho thế hệ trẻ.

Trong chương trình “Thanh âm Việt Nam. Giai điệu cuộc sống” năm 2026, những giai điệu dân gian được khuyến khích trở thành chất liệu sáng tạo, phục vụ việc xây dựng Ngân hàng giai điệu và Bản đồ âm nhạc Việt Nam. Hành trình ấy cũng đặt ra yêu cầu tìm kiếm phương thức trao truyền phù hợp để di sản tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.

Gắn bó với hát Then hơn 30 năm, chị Đào Thị Thoa, sinh năm 1977, đã tiếp xúc với những câu hát truyền thống từ thuở nhỏ. Những đêm mùa đông bên bếp lửa, khi lắng nghe cha mẹ cất lời ca, đã trở thành ký ức khởi đầu cho tình yêu nghệ thuật dân gian của chị.

“Thuở tôi còn bé, vào những đêm đông ngồi bên bếp lửa bập bùng, tôi tỉ mẩn lắng nghe bố mẹ hát, rồi ngày qua ngày, nghe nhiều thành quen và dần thuộc lòng từng câu từng chữ, làn điệu đó cứ thế ngấm vào tâm hồn mình lúc nào không hay nữa”, chị Thoa tâm sự.

Khi trưởng thành và trực tiếp học cách chơi đàn, giữ nhịp, chị mới nhận ra hát Then không đơn thuần là ghi nhớ lời ca. Người thể hiện phải biết điều tiết hơi thở, xử lý những đoạn luyến láy tinh tế và duy trì nhịp điệu chính xác để giọng hát hòa quyện tự nhiên với tiếng đàn.

“Không phải cứ thuộc lời là có thể hát được đâu, muốn câu Then tròn trịa, người hát phải làm chủ được nhịp đàn, bởi tiếng đàn và giọng hát là hai thực thể hòa quyện, nếu lệch nhịp, hồn cốt của câu hát, bài ca sẽ rời rạc”, chị Thoa nói.

Trong nghệ thuật này, đàn Tính không chỉ đảm nhiệm vai trò đệm hát mà còn mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc, thể hiện mối liên hệ giữa con người với thế giới tâm linh và thiên nhiên. Âm thanh của nhạc cụ cùng lời Then tạo nên nét đặc trưng trong đời sống văn hóa của đồng bào Tày.

Việc làm ra một cây đàn cũng đòi hỏi sự khéo léo và hiểu biết về vật liệu. Nhạc cụ có ba bộ phận chính gồm bầu đàn, cần đàn và ba dây; bầu thường được làm từ quả bầu khô già, tròn đều, kích thước khoảng 15–25 cm, kết hợp với mặt đàn bằng gỗ ngô đồng dày khoảng 3 mm.

Trên mặt đàn, hai lỗ thoát âm hình hoa thị được tạo tác nhằm tăng khả năng cộng hưởng. Cần đàn thường sử dụng gỗ dâu hoặc gỗ thừng mục, phải thẳng và dài, với phần đầu được uốn thành hình lưỡi liềm, đầu rồng hoặc đầu phượng.

Nếu dây đàn trước đây được làm từ tơ xe thì ngày nay, dây nilon được sử dụng để tăng độ bền và khả năng phát âm. Bề mặt cần đàn được mài nhẵn, hỗ trợ nghệ nhân thực hiện những kỹ thuật luyến láy đòi hỏi sự chính xác.

Hát Then cũng có đặc trưng riêng khi đặt cạnh các loại hình dân ca khác. Nếu Quan họ Bắc Ninh gắn với hình thức giao duyên giữa liền anh, liền chị trong không gian hội hè, đình làng, thì Then mang màu sắc tâm linh, thể hiện sự giao đãi giữa con người với cõi đất trời.

Dù giàu giá trị văn hóa, việc truyền dạy Then hiện vẫn chủ yếu dựa vào phương thức truyền khẩu và thực hành trực tiếp trong gia đình, cộng đồng. Việc thiếu giáo trình hoặc hệ thống ký âm chuyên biệt khiến người mới học gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận, nhất là khi điều kiện sinh hoạt của thế hệ trẻ ngày càng thay đổi.

“Giới trẻ giờ đây thường có xu hướng lập nghiệp xa xứ, mải mê với vòng xoáy mưu sinh tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp tư nhân nơi phố thị, thậm chí là định cư ở đó, đó đó, ít có điều kiện gần gũi với loại hình này”, chị Thoa chia sẻ thêm.

Trước thực tế đó, mở rộng không gian thực hành văn hóa trên nền tảng số được xem là một hướng đi có tiềm năng. Chương trình “Thanh âm Việt Nam. Giai điệu cuộc sống” năm 2026 triển khai ba cấu phần Đố vui, Cảm nhận và Sáng tạo, tạo cơ hội để công chúng tương tác với âm nhạc truyền thống bằng những hình thức gần gũi hơn.

Không gian sinh hoạt hát then của người Tày. (Ảnh minh họa: TNM).

Thông điệp mỗi người một giai điệu khuyến khích mọi người sử dụng tiếng đàn, lời ca Then làm chất liệu sáng tạo số. Qua đó, những giá trị vốn gắn bó với bản làng có thêm cơ hội tiếp cận đông đảo công chúng, đồng thời góp phần hình thành nguồn tư liệu phục vụ việc lưu giữ và phát huy di sản.

Các sản phẩm nổi bật được thu thập có thể trở thành nguồn tài nguyên ban đầu cho những hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên chất liệu truyền thống. Tuy nhiên, sức sống lâu dài của Then vẫn phụ thuộc vào sự gắn bó của cộng đồng và những người trực tiếp thực hành, truyền dạy loại hình nghệ thuật này.

Tại những nếp nhà ở Phúc Lương, chị Thoa vẫn tiếp tục ôm đàn, cất tiếng hát, giữ cho lời Then hiện diện trong sinh hoạt thường ngày. Sự bền bỉ của những nghệ nhân như chị là một phần quan trọng trong hành trình bảo tồn di sản, nhất là khi các hình thức quảng bá mới có thể hỗ trợ đưa nghệ thuật dân gian đến gần hơn với người trẻ. “Tôi còn hát được ngày nào thì còn giữ ngày đó. Sau này, nếu con cháu có tâm muốn học, vẫn còn người truyền dạy để làn điệu này không bị lãng quên”, chị Thoa nói thêm.

Từ lời ca được học trong gia đình đến những cơ hội lan tỏa trên không gian số, nghệ thuật Then đang đứng trước khả năng kết nối các thế hệ bằng ngôn ngữ âm nhạc. Việc duy trì thực hành và trao truyền trong cộng đồng sẽ tiếp tục giữ vai trò nền tảng để những giai điệu truyền thống không bị đứt quãng giữa nhịp sống hiện đại.

Kim Yến (tổng hợp)