Thái Nguyên – Các hợp tác xã đang kết nối người dân vào chuỗi trồng, chế biến và tiêu thụ dược liệu, giúp nâng giá trị sản phẩm, tạo việc làm và mở thêm cơ hội cải thiện thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số.
- Đêm hội thưởng trà mở nhịp kết nối văn hóa Việt và thế giới
- Nữ sinh 13 tuổi vượt quãng đường 15km để theo đuổi đam mê ca hát
- Đường dây đầu tư giả và những khoản tiền bị chiếm đoạt
Từ những mô hình tại xã Đồng Hỷ, Văn Hán, Võ Nhai đến Yên Trạch, cây dược liệu từng bước trở thành hướng sản xuất hàng hóa gắn với vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. Đặc biệt, sản phẩm sau chế biến có thể đạt giá trị cao gấp 10-15 lần so với bán nguyên liệu thô, trong khi toàn tỉnh đã hình thành vùng trồng dược liệu rộng hơn 10.000 ha.
HTX Nông nghiệp Dược liệu Thiên Phúc tại xã Đồng Hỷ là một trong những mô hình tiêu biểu cho hướng phát triển này. Tận dụng điều kiện địa hình đồi núi và khí hậu thuận lợi, địa phương đang chuyển dịch sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng tập trung, ứng dụng khoa học công nghệ để nâng giá trị sản phẩm và tạo sinh kế cho người dân.
Đồng Hỷ có thế mạnh về cây chè, chăn nuôi và trồng rừng. Cùng với quá trình chuyển đổi sản xuất, việc phát triển cây dược liệu cũng được chú trọng, nhất là tại các cộng đồng dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Ngái…
Chị Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc HTX Nông nghiệp Dược liệu Thiên Phúc, nhận thấy tiềm năng kinh tế của cây thuốc và thực trạng nhiều nguồn dược liệu quý tại địa phương suy giảm do khai thác thiếu kiểm soát. Từ đó, chị quyết định nghỉ việc tại một công ty nước ngoài để trở về phát triển cây dược liệu, đồng thời góp phần bảo tồn tài nguyên bản địa.
HTX lựa chọn những loại cây có giá trị như sâm bố chính, ba kích, đinh lăng, xây dựng vùng nguyên liệu đi đôi với chế biến và kinh doanh. Thay vì chỉ bán cây dược liệu thô, đơn vị nghiên cứu nhiều sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng hiện đại, trong đó có gà Mông hầm sâm bố chính, cốt lẩu sâm, panna cotta sâm, trà sâm và bột sâm.
Hoạt động kinh doanh cũng được mở rộng thông qua các nền tảng số. HTX sử dụng hình thức livestream và sàn thương mại điện tử để quảng bá sản phẩm, tiếp cận khách hàng trong và ngoài tỉnh.
Sau hơn 4 năm hoạt động, HTX đã tăng từ 8 thành viên ban đầu lên 15 thành viên chính thức, đồng thời liên kết sản xuất với 45 hộ dân. Vùng nguyên liệu được xây dựng trên diện tích hơn 30 ha; nhiều sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 3 sao, 4 sao và đã có mặt tại nhiều địa phương trên cả nước.

Mô hình không chỉ tạo thêm giá trị từ cây dược liệu mà còn mở việc làm cho hàng chục lao động, trong đó có phụ nữ dân tộc thiểu số, hộ cận nghèo và những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Theo chị Bình, HTX còn đóng vai trò kết nối, giúp người dân tiếp cận giống cây chất lượng, kiến thức, kỹ thuật canh tác và đầu ra ổn định, khắc phục tình trạng thiếu giống tốt, thiếu kinh nghiệm sản xuất và khó tìm thị trường tiêu thụ.
Tại xã Văn Hán, việc đầu tư chế biến sâu cũng được triển khai từ thực tế sản xuất. Có kiến thức về đông y, anh Trần Tuấn Anh từng thu mua dược liệu ở nhiều địa phương trong tỉnh, sơ chế rồi bán cho khách hàng, nhưng nhận thấy cách làm này chưa đem lại giá trị cao.
Năm 2024, anh quyết định thành lập HTX Dược liệu La Hiên, đầu tư nhà xưởng và máy móc để chế biến sâu. Hiện đơn vị tập trung sản xuất ba sản phẩm chính là trà Khúng khéng, trà Khang can an thận và cao ích mẫu, với sản lượng cung ứng bình quân trên 900 sản phẩm mỗi tháng.
Theo anh Tuấn Anh, Giám đốc HTX, mỗi tháng đơn vị chế biến hơn 1 tấn nguyên liệu, gồm cốt khí, khúng khéng, kim tiền thảo, thiên lý hương… Nguồn dược liệu được thu mua từ người dân trong và ngoài tỉnh, trong đó có nhiều hộ đồng bào miền núi; sản phẩm sau chế biến có giá trị cao gấp 10-15 lần so với bán thô.
Hiệu quả kinh tế từ vùng nguyên liệu cũng thể hiện qua mô hình trồng dong riềng đỏ của gia đình ông Nông Văn Bích, xã Võ Nhai, thành viên HTX Dược liệu La Hiên. Gia đình ông đã chuyển đổi 4 sào đất lúa sang trồng loại cây này và duy trì sản xuất suốt 10 năm qua, với lợi nhuận cao hơn 2-3 lần so với trồng lúa.
“Trồng dong riềng đỏ không những tận dụng được diện tích đất cằn cỗi, bạc màu, gặp khó khăn trong sản xuất nông nghiệp mà còn đem lại thu nhập cao gấp 2-3 lần so với lúa, ngô và một số loại cây màu khác. Ngoài cây dong riềng đỏ, hiện nay nhiều hộ dân trong xóm của tôi còn trồng các loại cây dược liệu khác như: bán chi liên, tía tô, dành dành” – ông Bích nói.
Ở xã Yên Trạch, cây dược liệu cũng đang được phát triển thành một hướng sản xuất có tiềm năng. HTX Nông nghiệp Tiên Phong đã mở rộng diện tích dược liệu liên kết lên khoảng 7 ha, với các loại cây như khôi nhung, địa liền, an xoa, ba kích và mướp đắng rừng.
Đằng sau mô hình này là nỗ lực vận động người dân tham gia sản xuất của anh Nguyễn Quốc Hoàng, Giám đốc HTX. Đơn vị không chỉ hướng dẫn kỹ thuật trồng mà còn đào tạo lao động các công đoạn chế biến, đóng gói; người trẻ được hướng dẫn bán hàng và sử dụng nền tảng mạng xã hội để tiếp cận khách hàng.
“Để người dân gắn bó với HTX, điều quan trọng là phải tạo được việc làm và thu nhập. Vì vậy, HTX không chỉ hướng dẫn bà con trồng cây mà còn đào tạo các công đoạn chế biến, đóng gói sản phẩm. Lao động trẻ được hướng dẫn bán hàng, kiến thức để ứng dụng và tham gia các nền tảng mạng xã hội” – anh Hoàng chia sẻ.
Bà Nguyễn Thu Hương, Chủ tịch UBND xã Yên Trạch, đánh giá mô hình của HTX Nông nghiệp Tiên Phong là hướng đi đáng khuyến khích vì đã bước đầu hình thành vùng nguyên liệu, đầu tư nhà xưởng chế biến và xây dựng sản phẩm OCOP. Tuy nhiên, để cây dược liệu trở thành nguồn thu ổn định, địa phương cần tiếp tục nâng chất lượng, hoàn thiện quy trình sản xuất và mở rộng thị trường.
Theo bà Hương, Yên Trạch và một số địa phương trong tỉnh có diện tích đất đồi cùng điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển nhiều loại dược liệu. Bên cạnh đó, người dân, nhất là đồng bào Tày, Nùng, có kinh nghiệm sử dụng và nhận biết các cây thuốc truyền thống, tạo lợi thế để xây dựng vùng sản xuất hàng hóa.
“Địa phương xác định cây dược liệu là một trong những hướng cần được quan tâm trong phát triển sinh kế thời gian tới. Tuy nhiên, để phát huy được tiềm năng, cần tổ chức sản xuất theo hướng liên kết, hình thành vùng nguyên liệu ổn định, ứng dụng khoa học kỹ thuật và quan trọng nhất là gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm”, bà Hương cho biết.
Để khai thác tốt tiềm năng này, Thái Nguyên đang triển khai Dự án đầu tư hỗ trợ phát triển vùng trồng dược liệu quý. Thực hiện Nghị quyết số 265/2025/QH15 của Quốc hội về kéo dài thời gian giải ngân vốn ngân sách nhà nước đến hết ngày 31/12/2026, tỉnh tập trung tháo gỡ vướng mắc và đẩy nhanh tiến độ dự án.
Chi cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn thuộc Sở NN&MT Thái Nguyên đã tham mưu, đôn đốc các nội dung theo kế hoạch, tổ chức họp với đơn vị chủ trì liên kết, xây dựng phương án điều chỉnh dự án và phối hợp với các ngành liên quan xử lý khó khăn. Chính quyền các địa phương cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp, HTX tham gia thu mua, chế biến, thống nhất lộ trình xây dựng cơ sở chế biến và phát triển vùng trồng ứng dụng công nghệ cao.
Hiện toàn tỉnh có vùng trồng dược liệu với quy mô trên 10.000 ha. Một số mô hình trồng đinh lăng, thìa canh, sâm bố chính, sa nhân tím… đã bước đầu phát triển theo chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ, mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 3-5 lần so với một số cây trồng truyền thống.
Thực tế từ các HTX cho thấy, mở rộng diện tích mới chỉ là một phần trong quá trình phát triển dược liệu. Chất lượng giống, quy trình canh tác, tiêu chuẩn vùng trồng và năng lực chế biến cần được chú trọng đồng thời, để sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường.
Khi người dân, HTX và doanh nghiệp cùng tham gia chuỗi liên kết, cây dược liệu có thêm cơ hội trở thành nguồn sinh kế ổn định cho các địa phương miền núi. Đây cũng là cơ sở để nâng cao giá trị tài nguyên bản địa, tạo thêm việc làm và từng bước khẳng định vị thế dược liệu Việt Nam trên thị trường.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
