Bảo vật sách đồng Khâm ban: Minh chứng hào hùng thời Lê Sơ

Sách đồng Khâm ban là bảo vật quốc gia ghi lại chiến tích bình Chiêm của vua Lê Thánh Tông năm 1471, khẳng định giá trị lịch sử và văn hóa đặc sắc thời Lê Sơ.

Lịch sử và nội dung độc đáo của sách đồng Khâm ban

Hồi tháng 2 vừa qua, kim sách Khâm ban đồng bài đã chính thức được công nhận là bảo vật quốc gia. Đây là hiện vật quý do chính vua Lê Thánh Tông cho đúc và khắc. Công việc này hoàn thành vào ngày 6 tháng 3 năm 1472. Trải qua hơn 550 năm, bảo vật này vẫn giữ được vẻ nguyên vẹn đáng kinh ngạc. Cuốn sách đồng còn có tên gọi khác là Cầu Không từ ký. Hiện vật này hiện đang được lưu giữ tại đình Cầu Không, tỉnh Ninh Bình. Đây là minh chứng quan trọng cho nghệ thuật đúc đồng thời Lê Sơ. Toàn bộ văn bản phản ánh tư duy và tâm linh của cha ông. Sách cung cấp nguồn sử liệu về địa danh và hành chính thời cổ.

Về đặc điểm vật lý, bảo vật được đúc hoàn toàn bằng chất liệu đồng đỏ. Sách gồm hai lá đồng có kích thước bằng nhau. Chiều dài mỗi lá là 45 cm và chiều rộng là 18,5 cm. Độ dày của mỗi lá đồng đạt khoảng 0,5 cm. Trên các lá đồng có bốn lỗ tròn để ghép lại với nhau. Tuy nhiên, các khuy tròn dùng để nối hiện nay đã không còn. Hiện vật đã ngả sang màu rêu xám theo thời gian. Tuy nhiên, các dòng chữ khắc trên bốn trang vẫn rất sắc nét. Phần viền được khắc nổi hoa văn hình kỷ hà và mây tản. Nghệ thuật điêu khắc trên đồng thể hiện sự tinh xảo của nghệ nhân xưa.

Nội dung bên trong sách đồng Khâm ban bao gồm tổng cộng 528 chữ. Trong đó có 526 chữ Hán và 2 chữ Nôm đặc trưng. Trang đầu tiên khắc bốn chữ lớn là Khâm ban đồng bài. Hai trang tiếp theo chứa bài ký về đền Cầu Không. Trang cuối cùng ghi rõ niên đại Hồng Đức năm thứ ba. Các dòng chữ được sắp xếp mạch lạc và mang tính thẩm mỹ cao. Đây là cuốn sách đồng có niên đại sớm nhất được tìm thấy. Nó cung cấp nguồn sử liệu quý về điển lệ và nghi thức. Những thông tin này giúp hậu thế hiểu rõ hơn về thế kỷ 15. Bảo vật là hình mẫu để nghiên cứu về chữ viết thời Lê Sơ.

Trang 1 và 4 của sách đồng, phần viền được khắc nổi hoa văn hình kỷ hà và hoa văn mây tản ở bốn góc  (Ảnh: Chụp màn hình báo VnExpress).

Ý nghĩa văn hóa và hành trình lưu lạc của bảo vật

Nội dung sách kể về chuyến chinh phạt Chiêm Thành của vua Lê Thánh Tông. Khi quân đội dừng chân tại sông Long Xuyên, nhà vua đã nằm mơ. Trong mộng, một vị thần cầm cờ vàng hiện ra xin phù trợ. Tỉnh giấc, vua sai quan thượng thư đi xem xét tình hình thực tế. Sau đó, vua trực tiếp làm lễ tại ngôi đền thiêng ven sông. Ngài lấy lá cờ giấy vàng cắm lên mũi thuyền rồng của mình. Kỳ lạ thay, đoàn thuyền vượt biển êm đềm như đi trên đất bằng. Nhờ sự phù hộ của thần linh, nhà vua đã giành chiến thắng lớn. Để tạ ơn, vua đã cho trùng tu lại đền Cầu Không bằng gỗ lim.

Sau chiến thắng, vua cho đúc cuốn sách đồng để ghi lại chiến tích bình Chiêm. Tuy nhiên, bảo vật này từng có giai đoạn bị thất lạc đầy sóng gió. Năm 1952, trong cuộc chiến tranh chống Pháp, ngôi đền đã bị đổ. Cuốn sách đồng quý giá bị chìm xuống dưới lòng sông sâu. Một số người dân địa phương đã kiên trì tìm vớt trong đêm. Sau đó, họ bí mật bảo quản bảo vật tại gia đình mình. Suốt thời gian dài, hiện vật được lưu lạc trong nhân dân. Mãi sau này, sách mới được đưa về Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Điều này thể hiện ý thức bảo vệ di sản của nhân dân ta.

Hiện nay, bảo vật đã trở về với mảnh đất Ninh Bình cổ kính. Đây không chỉ là một hiện vật lịch sử đơn thuần. Nó còn mang giá trị văn hóa và tín ngưỡng sâu sắc. Sách đồng Khâm ban khẳng định sức mạnh đoàn kết của dân tộc. Đó là sự kết hợp giữa vương quyền và niềm tin thần quyền. Chúng ta cần có trách nhiệm gìn giữ và phát huy giá trị này. Đây là niềm tự hào lớn lao của nền văn hóa Việt Nam. Bảo vật giúp chúng ta tìm hiểu về đời sống cư dân thời Lê Sơ. Đây thực sự là báu vật vô giá của quốc gia.

Theo: VnExpress