Giá nông sản khác biệt lớn vì chất lượng quy trình và thương hiệu

TP.HCM – Cùng một loại nông sản, nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà vườn áp dụng quy trình sản xuất chuẩn hóa đã tạo ra sản phẩm có giá bán cao hơn nhiều lần nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn và thương hiệu.

Dù đều là sầu riêng Ri6 hay cùng một giống bơ, giá bán trên thị trường có thể chênh lệch từ vài chục nghìn đồng đến hàng trăm nghìn đồng mỗi kilogram tùy theo chất lượng sản phẩm và phân khúc tiêu thụ. Theo các chuyên gia và đơn vị sản xuất, sự khác biệt này xuất phát từ quy trình canh tác, tỷ lệ trái đạt chuẩn, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và giá trị thương hiệu được xây dựng trong thời gian dài.

Tại TP.HCM, sầu riêng Ri6 được bày bán với nhiều mức giá khác nhau, từ khoảng 40.000-50.000 đồng/kg đến hơn 300.000 đồng/kg. Tương tự, có những loại bơ bán tại vườn chưa tới 10.000 đồng/kg nhưng cũng có sản phẩm đạt mức khoảng 160.000 đồng/kg và khách hàng phải đặt mua trước nhiều tháng.

Không ít người cho rằng mức giá khác biệt chủ yếu do giống cây trồng quyết định. Tuy nhiên, theo thực tế thị trường, ngay cả khi cùng một giống, giá bán vẫn có thể chênh lệch rất lớn vì chất lượng sản phẩm, quy trình sản xuất, tỷ lệ trái đạt chuẩn, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, thương hiệu và phân khúc khách hàng hướng tới.

Ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp Nhiệt đới, cho biết trên thị trường hiện tồn tại nhiều mức giá khác nhau đối với cùng một loại nông sản. Theo ông, các mức giá quá cao hoặc quá thấp thường chỉ mang tính cá biệt nên cần nhìn vào mặt bằng giá đại diện thay vì chỉ so sánh giữa hai điểm bán có mức chênh lệch lớn.

Lấy ví dụ với sầu riêng, ông cho biết tại TP.HCM có nơi bán lẻ khoảng 50.000 đồng/kg nhưng cũng có sản phẩm đạt giá vài trăm nghìn đồng mỗi kilogram. “Người tiêu dùng thường nhìn vào tên giống, chẳng hạn đều là Ri6 hoặc Dona, rồi đặt câu hỏi vì sao giá chênh nhau nhiều như vậy. Thực tế, cùng một giống nhưng chất lượng sản phẩm có thể hoàn toàn khác nhau”, ông nói.

Theo ông Nguyễn Văn Mười, tỷ lệ trái đạt chuẩn là yếu tố quan trọng quyết định giá trị sản phẩm. Chỉ riêng sự khác biệt giữa hàng loại A và loại B đã có thể tạo ra mức chênh khoảng 20.000 đồng/kg, trong khi các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của hệ thống bán lẻ cao cấp hoặc xuất khẩu còn có giá trị cao hơn nhờ đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về kích cỡ, mẫu mã, độ đồng đều, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Những trái sầu riêng đạt tiêu chuẩn về chất lượng, mẫu mã và an toàn có thể bán với giá cao hơn nhiều so với sản phẩm sản xuất theo phương thức truyền thống. (Ảnh minh họa: TNM)

Ông cho biết có những trang trại áp dụng hiệu quả các biện pháp kỹ thuật, giúp tỷ lệ trái loại 1 đạt từ 70-80%. Ngược lại, nhiều vườn canh tác theo phương thức truyền thống chỉ đạt khoảng 20-30%, khiến giá trị thương phẩm thấp hơn đáng kể.

Theo ông Nguyễn Thế Tùng, Giám đốc HTX Nông nghiệp Thông minh Phước Sơn (TP Đồng Nai), tư duy sản xuất hiện đại không còn đặt mục tiêu tối đa hóa sản lượng mà hướng đến nâng cao chất lượng. Các trang trại quy mô lớn cần chuẩn hóa toàn bộ quy trình để tạo ra sản phẩm có mẫu mã đẹp, đồng đều và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Ông cho rằng kỹ thuật tỉa trái là một trong những khâu đặc biệt quan trọng đối với cây sầu riêng. Việc chủ động loại bỏ những trái không đạt yêu cầu giúp cây tập trung dinh dưỡng cho các trái còn lại, từ đó nâng cao tỷ lệ sản phẩm loại 1.

Nhiều nhà vườn vẫn tiếc, giữ quá nhiều trái nên cuối cùng trái nhỏ, mẫu mã không đẹp, chất lượng không đồng đều. Ngược lại, những người làm bài bản sẵn sàng bỏ những trái không đạt ngay từ đầu để đổi lấy tỷ lệ trái loại 1 cao hơn ông phân tích.

Theo ông Tùng, để tạo ra nông sản có giá trị cao, việc chuẩn hóa phải được thực hiện ngay từ khi xuống giống. HTX hiện liên kết với nhiều hộ dân trên diện tích khoảng 80 ha, đạt sản lượng khoảng 1.200 tấn sầu riêng mỗi năm nhưng ưu tiên xây dựng quy trình canh tác đồng bộ thay vì chỉ mở rộng sản lượng.

Quy trình sản xuất của HTX chú trọng chăm sóc cây theo hệ sinh thái, tăng cường sử dụng vi sinh vật và vật tư nông nghiệp hữu cơ, đồng thời tuân thủ nghiêm nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Đất, nguồn nước và vật tư đầu vào đều được kiểm nghiệm định kỳ, còn trái được lấy mẫu kiểm tra trước thu hoạch nhằm bảo đảm đáp ứng các yêu cầu về dư lượng và an toàn thực phẩm.

Hiện nay, yếu tố đầu tiên không còn là ngon hay không ngon mà là phải an toàn. Khi đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn mới tính đến chất lượng và hương vị. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để có thể tham gia những thị trường có giá trị cao”, ông Tùng nhấn mạnh.

Câu chuyện tương tự cũng diễn ra với sản phẩm bơ của ông Huỳnh Minh Hoàng tại TP Đồng Nai. Trong khi giá bơ trên thị trường có thời điểm chỉ còn 15.000-20.000 đồng/kg, thậm chí dưới 10.000 đồng/kg tại vườn, sản phẩm của ông vẫn duy trì mức giá khoảng 160.000 đồng/kg trong nhiều năm và thường xuyên rơi vào tình trạng hết hàng.

Theo ông Hoàng, mức giá này được hình thành từ quy trình sản xuất nghiêm ngặt chứ không chỉ nhờ xây dựng thương hiệu. Gia đình ông bảo tồn giống bơ qua nhiều thế hệ, chuyển sang canh tác hữu cơ khoảng 5-6 năm gần đây và đầu tư mạnh vào các tiêu chuẩn chất lượng.

Sự chênh lệch giá giữa các loại nông sản không chỉ đến từ giống cây mà còn phụ thuộc vào quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và thương hiệu. (Ảnh minh họa: TNM)

Trang trại sử dụng nhiều loại phân bón hữu cơ nhập khẩu, đồng thời xây tường bao nhằm hạn chế nguy cơ hóa chất từ khu vực sản xuất lân cận. Nếu xung quanh phun thuốc, gió có thể mang hóa chất bay sang. Nước mưa cũng có thể cuốn theo dư lượng. Tôi không muốn những rủi ro đó ảnh hưởng đến sản phẩm của mình, ông nói.

Theo ông, việc chạy theo sản lượng hoặc nới lỏng tiêu chuẩn có thể mang lại lợi ích trong ngắn hạn nhưng sẽ làm suy giảm giá trị thương hiệu đã mất nhiều năm gây dựng. Đây cũng là lý do sản phẩm vẫn giữ được sức hút với người tiêu dùng dù có mức giá cao hơn mặt bằng chung.

Các chuyên gia nhận định khoảng cách giá giữa những sản phẩm cùng tên gọi phản ánh sự khác biệt về chất lượng, quy trình sản xuất và phân khúc thị trường. Ở phân khúc cao cấp, người tiêu dùng sẵn sàng chi trả nhiều hơn để sở hữu sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định và được kiểm soát nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, trong khi phân khúc bình dân chủ yếu ưu tiên yếu tố giá.

Theo ông Nguyễn Văn Mười, thách thức hiện nay không nằm ở việc thị trường tồn tại nhiều mức giá mà ở chỗ nhiều nông dân vẫn duy trì tư duy sản xuất cũ, tập trung vào sản lượng thay vì chất lượng. Khi các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc và quy trình sản xuất, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những đơn vị có tỷ lệ sản phẩm đạt chuẩn cao.

Vườn sầu riêng của HTX Nông nghiệp Thông minh Phước Sơn (TP Đồng Nai) áp dụng quy trình canh tác chuẩn hóa nhằm nâng cao chất lượng trái. (Ảnh minh họa: TNM)

Ông Nguyễn Thế Tùng cho rằng mô hình hợp tác xã giúp mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời tạo điều kiện áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật, giảm chi phí và kiểm soát chất lượng hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp cần tăng cường xúc tiến thương mại cho các vùng trồng đạt chuẩn, xây dựng hệ thống dự báo thời tiết chuyên biệt và hỗ trợ nông dân tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao giá trị nông sản Việt.

Khoảng cách giá giữa những trái sầu riêng hay quả bơ vì vậy không chỉ phản ánh sự khác biệt về giống cây mà còn là kết quả của cả một chuỗi giá trị gồm điều kiện tự nhiên, kỹ thuật canh tác, kỷ luật sản xuất, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng. Khi những yếu tố này được đầu tư bài bản, mức giá cao trở thành kết quả tất yếu, góp phần tạo hướng phát triển bền vững cho nông sản Việt.

Minh Tuấn (tổng hợp)