Cô giáo vùng biên khiêng xe máy vượt suối đến điểm trường “3 không”

Cầu tạm bị lũ cuốn, đường vào bản chia cắt, nhiều điểm trường không điện, sóng điện thoại, Internet nhưng các cô giáo mầm non ở Mỹ Lý vẫn bám bản, giữ lớp.

Trước thềm năm học mới, cầu tạm Yên Hòa ở xã Mỹ Lý, tỉnh Nghệ An bị lũ cuốn trôi, khiến hơn 200 hộ dân tại các bản Yên Hòa, Nhọt Lợt và Piêng Pèn bị cô lập. Sự cố cũng khiến hành trình đến điểm trường của giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 thêm nhiều trở ngại.

Năm nay, cô Lương Thị Huế được phân công phụ trách điểm trường Nhọt Lợt. Tuy đã nhiều năm công tác ở vùng cao, cô vẫn lo lắng khi tuyến đường chính vào bản bị chia cắt bởi dòng nước.

Khiêng xe máy qua khe tràn, mang lương thực vào điểm trường

Theo cô Huế, sau khi cầu bị lũ cuốn, giáo viên muốn vào bản phải phụ thuộc vào thuyền. Chi phí đi người không là 20.000 đồng/lượt, còn đưa cả xe máy sang bờ bên kia là 50.000 đồng/chuyến. Khi nước dâng cao, chi phí có thể tăng thêm.

“Cầu mất rồi, giáo viên phải phụ thuộc vào thuyền để qua sông. Nếu đi người không là 20.000 đồng, đưa cả xe máy sang bờ bên kia thì 50.000 đồng/chuyến. Những ngày nước dâng cao, giá còn đắt hơn nữa”, cô Huế chia sẻ.

Giáo viên cùng người dân đưa xe máy qua khe tràn khi nước chảy xiết. (Ảnh minh họa: TNM)

Nếu không đi thuyền, giáo viên phải chọn tuyến đường vòng thêm hàng chục km, mất gần 5 giờ di chuyển. Trên đường, có những đoạn suối, khe tràn nước chảy xiết, các cô phải cùng người dân gồng sức khiêng xe máy qua.

Vào mùa mưa, mỗi lần lên điểm trường, giáo viên còn phải chuẩn bị lương thực đủ dùng nhiều ngày. Cá khô, mắm, muối, mì tôm được mang theo bởi việc trở lại trung tâm xã có thể bị gián đoạn.

“Vào tới điểm trường nhiều lúc tủi thân mà bật khóc”, cô Huế tâm sự.

Những chuyến đi như vậy trở thành một phần công việc của giáo viên tại các bản vùng cao. Đường đi khó khăn nhưng lớp học vẫn phải duy trì, bởi học sinh ở những bản xa không dễ di chuyển về điểm trường chính.

Những điểm trường “3 không” giữa vùng biên

Tại Mỹ Lý, khó khăn không chỉ nằm trên đường đến trường. Điều kiện sinh hoạt và dạy học ở nhiều điểm trường lẻ cũng thiếu thốn.

Cô Lô Thị Bích, phụ trách điểm trường Xốp Dương, đã có hơn 20 năm công tác tại Mỹ Lý và luân phiên qua nhiều điểm trường. Với giáo viên vùng cao, ở lại điểm trường cả tuần, đến cuối tuần mới trở về nhà là chuyện quen thuộc.

“Điểm Xốp Dương không có điện lưới, sóng điện thoại lúc có lúc không. Giáo viên ở lại điểm trường, cùng sống với dân bản, với các cháu suốt nhiều năm qua”, cô Bích nói.

Điểm trường bản Cha Nga là nơi giáo viên duy trì việc dạy học cho học sinh vùng biên. (Ảnh minh họa: TNM)

Tại bản Cha Nga, cách trung tâm xã gần 30km, cô Lô Thị Chai đang phụ trách điểm mầm non cắm bản. Xe máy chỉ đi được khoảng 10km đầu, phần đường còn lại giáo viên phải gửi xe nhờ nhà dân rồi tiếp tục đi bộ, lội suối.

“Cha Nga là bản không điện lưới, không sóng điện thoại, không Internet. Mang điện thoại vào đây nhiều khi chỉ để xem lại ảnh của con và gia đình”, cô Chai kể.

Để duy trì liên lạc, nhiều hộ dân ở Cha Nga tự trang bị hoặc được hỗ trợ máy bộ đàm cầm tay. Khi học sinh ốm hoặc sốt bất thường, giáo viên dùng bộ đàm để thông báo cho phụ huynh.

Một đơn vị thiện nguyện đã hỗ trợ hệ thống điện năng lượng mặt trời, nhưng nguồn điện chỉ đủ phục vụ việc dạy học trong giờ lên lớp. Các thiết bị hiện đại vì thế khó được sử dụng, giáo viên chủ yếu dùng tranh ảnh và đồ dùng trực quan để hỗ trợ trẻ tiếp thu bài.

Sau giờ học, những thiếu thốn tiếp tục hiện diện trong sinh hoạt. Không có công trình phụ và nguồn nước sạch, các cô phải tắm giặt tại những khe suối gần bản. Những ngày trời rét, nước suối lạnh buốt, giáo viên phải gánh nước về đun trước khi sử dụng.

Không có nhà công vụ, các cô tận dụng nhà gỗ làm nơi ở, phòng kho được dọn thành chỗ ngủ. Buổi tối, sau khi học sinh về nhà, giáo viên tranh thủ soạn giáo án dưới ánh sáng từ hệ thống “điện cù” lấy sức nước dưới suối.

Điểm trường xa cũng đồng nghĩa với việc liên lạc với gia đình không dễ dàng. Những nữ giáo viên có con nhỏ phải gửi con cho ông bà hoặc chồng chăm sóc để lên bản công tác. Muốn gọi điện về nhà, các cô phải tìm đến những nơi có sóng.

“Nhớ nhà cũng không thể làm gì. Muốn liên lạc phải đi ra ngoài bản, may mắn có điểm sóng rơi thì mới gọi về được”, cô Chai chia sẻ.

Bám bản để trẻ vùng cao có lớp học

Bà Kha Thị Thảo, Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Mỹ Lý 2, cho biết năm học này trường dự kiến có hơn 120 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc Thái. Học sinh được tổ chức tại một điểm trường chính và 6 điểm trường lẻ ở các bản Nhọt Lợt, Piêng Pèn, Cha Nga, Xốp Dương…

Theo bà Thảo, địa hình cách trở khiến nhà trường phải duy trì các điểm trường lẻ để trẻ thuận lợi đến lớp. Tuy nhiên, nhiều điểm vẫn thiếu điện, sóng điện thoại, Internet và cơ sở vật chất.

“Giáo viên muốn đến được với học sinh phải vượt qua rất nhiều khó khăn. Nhà trường động viên các cô bám bản, bám lớp, bởi nếu giáo viên không vào thì các cháu ở bản không có điều kiện đến trường”, bà Thảo nói.

Giữa những bản làng giáp biên, các giáo viên mầm non tiếp tục mang giáo án và lương thực vượt qua những cung đường khó khăn để đến lớp. Ở những điểm trường còn thiếu nhiều điều kiện sinh hoạt, việc duy trì lớp học phụ thuộc trực tiếp vào sự có mặt của giáo viên.

Mỗi ngày, tiếng trẻ thơ vẫn vang lên giữa núi rừng Mỹ Lý, khi những cô giáo vùng cao tiếp tục bám bản, bám lớp và duy trì việc dạy học cho học sinh ở các bản xa.

Thiên An (tổng hợp)