Thái Nguyên mở rộng mô hình nông nghiệp tuần hoàn, liên kết sản xuất

Các mô hình nông nghiệp tuần hoàn và chuỗi liên kết khép kín đang giúp người dân giảm chi phí, nâng giá trị sản phẩm, xử lý phụ phẩm và tạo thêm thu nhập.

Từ trồng ngô sinh khối, chăn nuôi bò đến xử lý chất thải làm phân bón, các mô hình tại Thái Nguyên đang hình thành những chu trình sản xuất khép kín, trong đó phụ phẩm của khâu này trở thành đầu vào cho khâu khác. Cùng với đó, các hợp tác xã xây dựng liên kết từ con giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc đến chế biến, tiêu thụ, qua đó tạo nền tảng để mở rộng sản xuất.

Dự án “Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp theo tuần hoàn” được triển khai tại Thái Nguyên và Bắc Ninh với quy mô 950 con bò vỗ béo, 12 ha ngô sinh khối; riêng Thái Nguyên có 510 con bò và 6 ha ngô. Chu trình sản xuất được tổ chức theo hướng ngô sinh khối làm thức ăn cho bò, chất thải được xử lý bằng chế phẩm sinh học hoặc nuôi giun quế để tạo phân hữu cơ quay lại phục vụ cây trồng.

Dự án đặt mục tiêu bò tăng từ 750 g/con/ngày trở lên, ngô sinh khối đạt năng suất từ 50 tấn/ha, toàn bộ cơ sở tham gia xử lý chất thải làm phân bón và hiệu quả kinh tế tăng ít nhất 10% so với phương thức chăn nuôi đại trà. Những chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả của mô hình được tính đồng thời trên năng suất, chi phí, xử lý chất thải và giá trị kinh tế.

Tại xóm Ngọc Xuân, xã Điềm Thụy, tỉnh Thái Nguyên, Hợp tác xã Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My đã hình thành chuỗi liên kết từ con giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc đến chế biến và tiêu thụ. Hợp tác xã hiện liên kết với khoảng 35 hộ, quản lý tổng đàn khoảng 600 con bò; các hộ tự đầu tư chuồng trại, chăm sóc vật nuôi và nhận hỗ trợ về giống, kỹ thuật, thức ăn cùng đầu ra sản phẩm.

Nguồn phụ phẩm cũng được đưa trở lại chuỗi sản xuất thay vì bỏ đi. Hợp tác xã ký hợp đồng thu mua số lượng lớn bã bia, bã đậu và các phụ phẩm nông nghiệp để cung cấp cho hộ thành viên, đồng thời tận dụng phân bò nuôi trùn quế, tạo phân hữu cơ và kết nối đầu ra cho phân trùn quế.

Từ khâu chăn nuôi, chuỗi liên kết được kéo dài sang chế biến thực phẩm với 15 sản phẩm, trong đó có 3 sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3 sao. Mỗi tháng, Hợp tác xã chế biến khoảng 4-5 tấn sản phẩm gồm bò khô, dăm bông bò, bò viên, xúc xích, lạp xưởng, nem chua và nem chua rán, tiêu thụ tại Thái Nguyên, Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn La, Điện Biên và cung cấp thịt bò cho gần 20 trường mầm non.

Năm 2025, Hợp tác xã đạt doanh thu khoảng 35 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 4 tỷ đồng và tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động với thu nhập từ 9-10 triệu đồng/người/tháng. Với các hộ liên kết có quy mô khoảng 10 con bò, thu nhập bình quân đạt từ 12-15 triệu đồng/tháng.

Ông Nguyễn Viết Nam, Chủ tịch Hội Nông dân xã Điềm Thụy, đánh giá Hợp tác xã Chăn nuôi bò và Dịch vụ sản xuất nông nghiệp Nga My là một trong những hợp tác xã tiêu biểu của địa phương trong phát triển nông nghiệp theo chuỗi liên kết. Hợp tác xã không chỉ xây dựng sản phẩm an toàn, có nguồn gốc rõ ràng mà còn tạo việc làm, thu nhập ổn định và liên kết nhiều hộ nông dân cùng phát triển sản xuất.

Theo định hướng của địa phương, Hội Nông dân xã Điềm Thụy sẽ tiếp tục tuyên truyền, nhân rộng mô hình và đề xuất các cấp, ngành quan tâm hỗ trợ cơ chế, chính sách để hợp tác xã mở rộng quy mô, nâng chất lượng sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp.

Cùng với chăn nuôi bò, Thái Nguyên còn có mô hình nuôi lợn thịt từ thức ăn tự nhiên có bổ sung nguyên liệu chè xanh. Sau giai đoạn thử nghiệm tại hộ bà Nguyễn Thị Liễu, mô hình phát triển thành Hợp tác xã Toàn Liễu với 7 hộ tham gia, tổng quy mô gần 1.000 con lợn thịt.

Hợp tác xã Toàn Liễu đã tổ chức chuỗi từ chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và tiêu thụ. Lợn được giết mổ tại Lò mổ Hương Nguyên Thịnh ở xã Tân Cương, chế biến tại cửa hàng của đơn vị ở xóm Thịnh, xã Tân Cương, sau đó sản phẩm được bán tại Cửa hàng Hợp tác xã Toàn Liễu, Hợp tác xã Bắc Nguyên ở phường Phan Đình Phùng và Siêu thị Anh Chi Mart ở phường Quan Triều.

Hợp tác xã đã hoàn thiện hồ sơ đăng ký sản phẩm OCOP 3 sao cho thịt lợn trà xanh. Kết quả phân tích khoa học trên cả lợn đen bản địa và lợn ngoại thương phẩm cho thấy việc bổ sung chè xanh giúp giảm tỷ lệ mỡ, tăng độ đỏ và khả năng giữ nước của thịt.

Ông Hoàng Công Hợp, cán bộ Trung tâm Khuyến nông và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, cho biết chăn nuôi lợn trà xanh trước hết phải tuân thủ yêu cầu về an toàn sinh học. Chuồng trại cần thông thoáng, sạch sẽ, bố trí khoa học; con giống phải rõ nguồn gốc, khỏe mạnh và được tiêm phòng đầy đủ, trong khi thức ăn, nước uống được kiểm soát, không sử dụng nguyên liệu ẩm mốc hoặc chứa hóa chất cấm.

Người chăn nuôi cũng phải vệ sinh chuồng trại hằng ngày, khử trùng định kỳ và quản lý chất thải để hạn chế tác động đến môi trường. Với thức ăn có bổ sung bột lá chè xanh, tỷ lệ phối trộn phải đúng công thức; các hợp chất sinh học tự nhiên trong chè xanh được cho là có tác dụng tích cực đến quá trình trao đổi chất của vật nuôi, còn sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn thực phẩm.

Để các mô hình được triển khai rộng hơn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cùng hệ thống khuyến nông tại Thái Nguyên đã tham gia chuyển giao kỹ thuật, tập huấn và kết nối tiêu thụ. Riêng dự án sản xuất tuần hoàn đã tổ chức 27 lớp tập huấn, 6 hội thảo đầu bờ và phát hành 18.500 tờ gấp kỹ thuật, tạo thêm cơ sở để các tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi và những mô hình sản xuất hiệu quả có thể tiếp tục được nhân rộng.

Minh Tuấn (tổng hợp)