AN GIANG – Các công trình thủy lợi tại vùng Bảy Núi giúp đồng bào Khmer chủ động nguồn nước sản xuất, tăng số vụ lúa, duy trì vườn cây trong mùa khô và cải thiện thu nhập.
- Điện hóa thiết bị bốc xếp mở hướng tiết kiệm cho cảng Đa Phúc
- Triệu tập 30 người trong vụ giao dịch 15.000 tỉ đồng qua máy POS
- Hơn 9 tấn gạo bị phát hiện trong cơ sở đóng gói giả nhãn hiệu
Trước đây, gia đình ông Chau Keo ở xã An Cư chỉ canh tác một vụ lúa mỗi năm trên diện tích hơn 6.000 m², chủ yếu dựa vào nước mưa. Từ khi hệ thống thủy lợi được đầu tư, nguồn nước tưới ổn định hơn, tạo điều kiện để gia đình chuyển sang sản xuất hai vụ lúa mỗi năm.
Theo ông Keo, việc tăng thêm một vụ giúp thu nhập gia đình tăng gấp đôi, đồng thời giảm áp lực thiếu nước trong những tháng mùa khô. Đây là thay đổi đáng kể đối với người dân vùng cao vốn gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất.
Đầu tư công trình, chủ động nguồn nước vùng cao
Địa hình cao của vùng Bảy Núi khiến nhiều khu vực khó tiếp nhận nước từ hệ thống thủy lợi đồng bằng. Trong khi mùa mưa vừa cung cấp nước sản xuất, vừa tiềm ẩn nguy cơ lũ núi, thì vào mùa khô, nhiều cánh đồng và vườn cây thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới.
Theo Chi cục Thủy lợi thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, vùng Bảy Núi nằm trên địa bàn 10 xã, phường, với gần 170.000 ha đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó, hơn 3.500 ha đất vùng cao tại 8 xã, phường gồm An Cư, Núi Cấm, Thới Sơn, Tịnh Biên, Chi Lăng, Tri Tôn, Ô Lâm và Vĩnh Gia chưa có hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh. Phần lớn diện tích này do đồng bào Khmer canh tác, mỗi năm chỉ sản xuất một vụ lúa vào mùa mưa.
Để giải quyết tình trạng thiếu nước, tỉnh triển khai dự án xây dựng hệ thống thủy lợi vùng cao thích ứng với biến đổi khí hậu, phục vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân Bảy Núi. Dự án có tổng vốn đầu tư 367 tỷ đồng, gồm ba công trình hồ chứa Núi Dài 2, Cô Tô và Tà Lọt. Các hồ có dung tích thiết kế lần lượt khoảng 558.000 m³, 194.000 m³ và 530.000 m³. Trong đó, hồ Núi Dài 2 và hồ Tà Lọt được đưa vào vận hành năm 2024, cung cấp nước tưới cho hơn 500 ha đất nông nghiệp.

Ngoài phục vụ sản xuất, các hồ chứa còn có nhiệm vụ tích trữ, điều tiết nước sinh hoạt, hỗ trợ phòng cháy rừng trong mùa khô và góp phần cắt lũ núi vào mùa mưa. Nhờ đó, công trình thủy lợi không chỉ giúp nông dân ổn định mùa vụ mà còn góp phần nâng cao khả năng ứng phó với những diễn biến bất lợi của thời tiết.
Theo Chi cục Thủy lợi, tại các khu vực được đầu tư công trình, người dân có điều kiện chuyển từ sản xuất một vụ phụ thuộc nước mưa sang canh tác 2-3 vụ mỗi năm, kết hợp trồng lúa với hoa màu. Nguồn nước chủ động cũng mở ra cơ hội phát triển cây ăn trái và cây dược liệu, qua đó nâng cao giá trị sản xuất trên diện tích đất hiện có.
Bên cạnh các hồ chứa, Trung ương đang đầu tư dự án Cụm công trình thủy lợi vùng cao Bảy Núi với tổng vốn 516 tỷ đồng. Công trình hướng tới cấp nước chủ động cho gần 5.000 ha đất nông nghiệp, gồm khoảng 3.500 ha thuộc phạm vi tưới theo thiết kế của các trạm bơm hiện có và 1.480 ha diện tích mở rộng.
Các hạng mục của dự án gồm xây mới trạm bơm kênh Sườn 4; cải tạo, nâng cấp và mở rộng các trạm bơm 3-2, An Nông 3, Châu Lăng 1, Châu Lăng 2, Lê Trì 1 và Lê Trì 2. Khi hoàn thành, hệ thống được kỳ vọng giúp nhiều hộ dân chủ động nguồn nước, giảm sự phụ thuộc vào lượng mưa và nâng cao hiệu quả canh tác.
Không chỉ mang lại lợi ích cho diện tích trồng lúa, nguồn nước tưới còn có ý nghĩa thiết thực đối với những hộ phát triển vườn cây trên núi. Bà Niềng Phương, một hộ trồng xoài gần Núi Dài, cho biết trước đây vườn cây chủ yếu dựa vào nước mưa. Trong những đợt nắng nóng kéo dài, các mạch nước cạn kiệt khiến cây trồng có nguy cơ chết khô. Hiện nay, bà có thể bơm chuyền nước lên tưới vườn trong những tháng mùa khô, giúp duy trì sự sống của cây, bảo đảm năng suất và cải thiện thu nhập. “Có nước tưới dân mừng lắm. Trồng cây hay làm lúa đều an tâm”, bà Phương nói.
Việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống thủy lợi được kỳ vọng tạo điều kiện để nông dân vùng Bảy Núi, đặc biệt là đồng bào Khmer, mở rộng sản xuất, đa dạng cây trồng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Nguồn nước chủ động cũng góp phần giảm rủi ro do hạn hán, tạo nền tảng cho sinh kế ổn định hơn tại khu vực vùng cao.
Kim Yến (tổng hợp)
