Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo Việt Nam có thể vượt Indonesia về GDP bình quân đầu người trong năm 2026, trong khi các chỉ số về thu nhập và quy mô nền kinh tế cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.
- Tuyến xe buýt điện đầu tiên chính thức lăn bánh
- Mr Pips khai người điều hành hệ thống giao dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ
- Rao đất giá rẻ rồi dựng cảnh đặt cọc, tổng giám đốc công ty bị bắt
Theo báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới công bố tháng 10/2026, GDP bình quân đầu người của Việt Nam được dự báo đạt 5.259 USD, cao hơn mức 5.153 USD của Indonesia. Cùng với sự thay đổi thứ hạng trong ASEAN, số liệu từ Cục Thống kê cho thấy tăng trưởng kinh tế và thu nhập của người lao động tiếp tục được cải thiện.
Trong 40 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển biến, từ quy mô sản xuất đến thu nhập của người dân. Những con số thống kê cho thấy khoảng cách giữa các mốc phát triển ngày càng được rút ngắn, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong đời sống kinh tế – xã hội.
Theo dự báo của IMF, mức GDP bình quân đầu người của Việt Nam trong năm 2026 tăng 8,9% so với năm trước. Nếu đạt được con số này, Việt Nam sẽ đứng thứ 5 trong ASEAN, sau Singapore, Brunei, Malaysia và Thái Lan. Indonesia hiện là nền kinh tế có quy mô lớn nhất Đông Nam Á, với dân số gần gấp ba lần Việt Nam, nhưng mức GDP bình quân đầu người dự kiến thấp hơn.
Động lực tăng trưởng của Việt Nam đến từ nhiều lĩnh vực, trong đó có sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, đầu tư và dịch vụ. Những ngành này tiếp tục đóng góp vào quá trình mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh và quy mô nền kinh tế. Số liệu của Cục Thống kê cho biết, GDP Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp gần một nửa mức tăng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực dịch vụ tăng 8,96%.
Nhìn lại các giai đoạn trước, GDP bình quân đầu người năm 2016 của Việt Nam đạt khoảng 2.735 USD, trong khi năm 2010 mới ở mức 1.690 USD. So với dự báo 5.259 USD năm 2026, mức thu nhập tính theo chỉ tiêu này đã tăng gần gấp đôi sau 10 năm và cao hơn 3,1 lần so với năm 2010.
Quy mô GDP cũng có sự thay đổi rõ rệt. Năm 2025, nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 514 tỉ USD, gần gấp 3,5 lần mức khoảng 147 tỉ USD của năm 2010 theo chuỗi số liệu đã đánh giá lại.
Sự cải thiện còn thể hiện qua thu nhập thực tế của người dân. Kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống dân cư năm 2025 của Cục Thống kê ghi nhận thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 5,9 triệu đồng/tháng, tăng 9,3% so với năm 2024.
Năm 2016, con số này mới ở mức khoảng 3,1 triệu đồng/tháng. Như vậy, sau chưa đầy một thập niên, thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành đã tăng khoảng 1,9 lần. Nếu so với mức 1,39 triệu đồng/người/tháng của năm 2010, thu nhập năm 2025 cao hơn khoảng 4,3 lần. Thu nhập được cải thiện cũng đi cùng sự thay đổi trong nhu cầu sinh hoạt. Người dân ngày càng quan tâm đến tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nhà ở và các dịch vụ phục vụ đời sống.
Diễn biến trong năm 2026 tiếp tục cho thấy xu hướng này. Trong 9 tháng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 9,1 triệu đồng/tháng, tăng 752.800 đồng, tương đương 9,1% so với cùng kỳ năm trước, theo số liệu của Cục Thống kê.
Mục tiêu thu nhập cao và những điều kiện cần thiết
Từ mức GDP bình quân đầu người được dự báo vượt 5.000 USD, Việt Nam đang hướng tới những mục tiêu phát triển cao hơn trong những năm tới. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định đến năm 2030, nước ta trở thành quốc gia đang phát triển, có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Để thực hiện định hướng này, giai đoạn 2026 – 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đồng thời phấn đấu đưa GDP bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030.
TS Ngô Minh Hải, Phó hiệu trưởng kiêm phụ trách Khoa Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế – Tài chính TP.HCM, nhận định nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa mục tiêu thu nhập cao đòi hỏi phải tạo điều kiện để các nguồn lực trong xã hội được huy động và sử dụng hiệu quả.
“Thành quả phát triển của VN hôm nay là kết quả tích lũy từ 40 năm đổi mới, mở cửa và hội nhập. Trong một thời gian dài, những hạn chế về cơ chế, chính sách và môi trường kinh doanh khiến nhiều nguồn lực chưa được khai thác hiệu quả, dẫn đến tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Khi những điểm nghẽn về thể chế và pháp lý được tháo gỡ, doanh nghiệp và người dân có thêm điều kiện tham gia hoạt động kinh tế, động lực tăng trưởng sẽ được khơi thông mạnh mẽ hơn”, TS Hải nhấn mạnh.
Theo chuyên gia, tư duy điều hành kinh tế đang chuyển dần từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, chú trọng xây dựng môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế. Bên cạnh việc xác định mục tiêu, yêu cầu quan trọng hiện nay là phải có nguồn lực và giải pháp cụ thể để triển khai.
Ba điều kiện cần được bảo đảm gồm định hướng chiến lược phù hợp, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu và tiềm lực tài chính đủ mạnh. Cùng với đó, chất lượng đội ngũ quản lý, khả năng tổ chức thực hiện chính sách, việc huy động vốn trong nước và quốc tế cũng như hiệu quả đầu tư công cần được quan tâm đồng bộ.
“Không phải cứ ban hành một nghị quyết hay đưa ra một chủ trương mới là kết quả tăng trưởng sẽ xuất hiện ngay lập tức”, ông Hải phân tích về độ trễ của chính sách. Đầu tư công được kỳ vọng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, quá trình giải ngân vẫn chịu tác động từ thủ tục hành chính, cơ chế quản lý và năng lực triển khai dự án. Nếu các vướng mắc này chưa được xử lý, nguồn vốn được bố trí sẽ khó chuyển hóa thành kết quả kinh tế như kỳ vọng.

Cùng với đầu tư, việc hoàn thiện thể chế và mở rộng các động lực tăng trưởng mới cũng được đặt ra. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, hướng tới tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển.
Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 57 về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng được kỳ vọng tạo thêm động lực cho nền kinh tế. Việc triển khai các định hướng này hướng tới khai thác tốt hơn tiềm năng của khu vực tư nhân, công nghệ và các hoạt động đổi mới sáng tạo, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào những động lực tăng trưởng truyền thống.
TS Ngô Minh Hải cho rằng Việt Nam cần có giai đoạn chuẩn bị và củng cố nền tảng, từ hoàn thiện thể chế, phát triển nhân lực đến đầu tư hạ tầng và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực. Những công việc này có thể chưa tạo ra kết quả tức thời, nhưng là điều kiện để nền kinh tế có khả năng tăng tốc trong các năm tiếp theo.
Kim Yến (tổng hợp)
