Tại các xã phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, nhiều hộ dân và hợp tác xã đang thay đổi cách tổ chức chăn nuôi, kết hợp kiểm soát dịch bệnh với nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Vụ 3 mẹ con cô giáo bị truy sát: Bé gái 11 tuổi hồi phục, mẹ còn điều trị
- Phó thị trưởng Nhật Bản tử vong khi khiêng kiệu lễ hội truyền thống
- Nghệ An khởi tố 10 bị can trong đường dây sản xuất, buôn bán thuốc giả
Từ chuồng nuôi dúi má hồng của gia đình chị Hoàng Thị Tiên ở xã Cao Minh đến mô hình vỗ béo trâu, bò của Hợp tác xã Chăn nuôi Giàng Tiến tại xã Nghiên Loan, các biện pháp an toàn sinh học được triển khai ngay từ cơ sở. Sự chuyển đổi này diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt với những hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Các xã phía Bắc tỉnh Thái Nguyên có khí hậu mát mẻ và nguồn phụ phẩm nông nghiệp phong phú, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, những lợi thế đó không loại bỏ được nguy cơ dịch bệnh, khiến người dân phải chú trọng hơn đến chuồng trại, con giống và thức ăn. Nhiều hộ chăn nuôi, cơ sở sản xuất và hợp tác xã đã phối hợp với cơ quan chuyên môn để điều chỉnh phương thức sản xuất, đưa công tác phòng dịch vào quy trình thường xuyên.
Tại thôn Hưng Thịnh, xã Cao Minh, gia đình chị Hoàng Thị Tiên lựa chọn nuôi dúi má hồng theo hướng khép kín. Đây là vật nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao, nhưng cần điều kiện chuồng trại và cách chăm sóc phù hợp để hạn chế nguy cơ dịch bệnh.
Gia đình chị Tiên đã đầu tư hệ thống chuồng kiên cố, thông thoáng, nền lát gạch để thuận tiện vệ sinh, tiêu độc và khử trùng. Các khu nuôi được sắp xếp theo đặc điểm sinh trưởng của dúi; riêng khu vực sinh sản được bố trí rộng rãi, khô ráo nhằm bảo vệ con giống.

Từ cách tổ chức chuồng trại, có thể thấy phòng bệnh được đặt vào chính quá trình chăm sóc vật nuôi hằng ngày. Việc kiểm soát môi trường sống không chỉ nhằm hạn chế mầm bệnh mà còn tạo điều kiện duy trì hoạt động chăn nuôi ổn định.
Ở quy mô hợp tác xã, yêu cầu an toàn sinh học gắn với quản lý đàn vật nuôi và kiểm soát chất lượng đầu vào. Hợp tác xã Chăn nuôi Giàng Tiến, xã Nghiên Loan, hiện duy trì hoạt động vỗ béo từ 300-400 con trâu, bò, đồng thời chú trọng xây dựng khu giết mổ khép kín.
Ông Giàng Văn Tiến, Giám đốc Hợp tác xã Chăn nuôi Giàng Tiến, cho biết đơn vị phối hợp với Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp địa phương tổ chức tiêm phòng bắt buộc cho trâu, bò ngay khi nhập về. Ba loại vắc-xin được sử dụng để phòng bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng và viêm da nổi cục; việc tiêm phòng được thực hiện theo lịch, kết hợp phun khử trùng định kỳ để hạn chế mầm bệnh xâm nhập và lây lan trong đàn.
Những biện pháp này cho thấy phòng dịch không chỉ dừng ở việc xử lý khi vật nuôi có dấu hiệu mắc bệnh. Việc kiểm soát từ đầu vào, duy trì vệ sinh và thực hiện tiêm phòng tạo thành các khâu liên tiếp trong quá trình quản lý đàn gia súc.
Theo số liệu của ngành chuyên môn, toàn tỉnh hiện có hơn 1.600 trang trại chăn nuôi. Chăn nuôi tập trung, quy mô lớn chiếm trên 50% tổng đàn gia súc, gia cầm; trong đó có 103 trang trại quy mô lớn, 786 trang trại quy mô vừa và hơn 700 trang trại quy mô nhỏ.
Đáng chú ý, hơn 70% cơ sở chăn nuôi lợn và gia cầm trên địa bàn đã áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn về an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường. Những con số này phản ánh mức độ triển khai của các biện pháp quản lý an toàn trong hoạt động chăn nuôi tại địa phương.
Tuy vậy, việc áp dụng quy trình an toàn sinh học cần được duy trì trong thực tế sản xuất, từ vệ sinh chuồng trại đến kiểm soát nguồn vật nuôi và thực hiện tiêm phòng. Sự phối hợp giữa người chăn nuôi, hợp tác xã và cơ quan chuyên môn là một phần quan trọng trong nỗ lực hạn chế nguy cơ dịch bệnh.
Với các hộ dân, bảo vệ đàn vật nuôi cũng đồng nghĩa với bảo vệ nguồn thu nhập và sinh kế. Khi phòng dịch trở thành một phần thường xuyên của quy trình sản xuất, chăn nuôi an toàn sinh học có thể góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, cải thiện hiệu quả kinh tế và hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn.
Hoàng Lan (tổng hợp)
