Tại cuộc gặp đồng đội ở Thanh Hóa, cựu chiến binh Nguyễn Trung Thu nhớ lại những năm tháng làm lính trinh sát Đặc công, từ trận đánh bình độ 1800B đến ngày bị thương ở Vị Xuyên.
- Miền Bắc sắp đón không khí lạnh, nhiều nơi chuyển mưa giông
- Hai mặt hàng Việt giữ vị trí nổi bật
- Những chuyến về quê dang dở sau một đêm định mệnh
Tháng 8/2026, trong cuộc giao lưu, gặp mặt Hội Cựu lính Đặc công quê Nông Cống tại Làng Ốc, xã Thăng Bình, tỉnh Thanh Hóa, những người từng chiến đấu trong các đơn vị Đặc công có dịp gặp lại nhau. Từ cuộc gặp ấy, những ký ức về đồng đội và những năm tháng trinh sát tại chiến trường biên giới được cựu chiến binh Nguyễn Trung Thu kể lại.
Giữa đông đảo đồng đội của Trung đoàn Đặc công 112 và Trung đoàn Đặc công 113, Thành Đô bất ngờ được ba người hỏi có phải trước đây ở E113 hay không. Khi ông trả lời mình từng ở C10D9 từ tháng 3/1981, một người tự giới thiệu là Thu A382, còn người khác là Thái, lính C11 được bổ sung đi với C10, từng lên lấy xác anh Trang, Trung đội trưởng, sau trận đánh bình độ 1800B đêm 10 rạng ngày 11/6/1981.
Thái kể: “Khoảng 4 giờ sáng, tôi và 2 đồng đội C10 theo đường vòng, rẽ cây đi lên cứ điểm, không đi theo dấu lộ tiêu của trinh sát mở cửa. Trời sáng mờ, đủ nhìn. Tôi buộc dây vào chân, kéo thi thể xuống chân đồi, nhận ra anh Trang, B trưởng. Kéo khuất tầm, tôi xốc anh Trang lên vai, vác theo dọc suối đến điểm tập kết, bàn giao cho đơn vị phẫu.”

“Còn anh Phong, C trưởng, ai đưa xuống, tôi không nhớ nữa, lâu lắm rồi.”
Trong cuộc gặp, Thành Đô đặc biệt chú ý đến người lính tự giới thiệu là Thu, trinh sát D9. Người cựu chiến binh mang quân hàm Thượng úy, bước đi tập tễnh và cho biết mình bị thương tại Vị Xuyên, cụt chân phải nên đồng đội gọi là “Thu Cụt”.
Nguyễn Trung Thu kể, ông sinh ngày 04/03/1961, quê xã Trung Thành, Nông Cống, Thanh Hóa, nay là xã Thắng Lợi, tỉnh Thanh Hóa. Ông nhập ngũ ngày 15/8/1980, được huấn luyện tại Trung đoàn Đặc công 112, đến tháng 3/1981 chuyển ra Trung đoàn 113 Anh hùng, biên chế vào Trung đội Trinh sát, Tiểu đoàn 9.
Cuối tháng 4/1981, Tiểu đoàn 9 nhận nhiệm vụ lên biên giới đánh các cao điểm 1800A, 1800B do anh Phạm Văn Điến, Đại đội trưởng C9, chỉ huy. Lực lượng trinh sát đưa đồng chí Đỗ Tam, Bộ Tư lệnh Đặc công, lên chỉ đạo, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ đi địa hình.
Trong khoảng 3 tháng năm 1981, đơn vị tổ chức đánh các điểm cao 1800A, 1800B. Lần đầu C9 đánh chưa thành công, sau đó tổ chức đánh lần thứ hai và giải phóng bình độ 1800B, với thiệt hại gồm đồng chí Phong, Đại đội trưởng C10; đồng chí Trang, B trưởng; đồng chí Thơm, quê Thăng Bình, Nông Cống, Thanh Hóa, hy sinh khi mới 18 tuổi.
Tháng 11/1981, Nguyễn Trung Thu được rút về kết nạp Đảng. Đến tháng 3/1982, trong thời gian chuẩn bị cho 10 năm thành lập Trung đoàn 113, ông vào đội võ thuật do Trung úy Đức Đen làm giáo viên và tham gia biểu diễn ngày 3/6/1982.
Tháng 2/1983, ông được cử đi học ngắn hạn tại Trường Sĩ quan Đặc công, Dục Mỹ, Nha Trang. Năm 1984, sau khi tốt nghiệp, ông được phong quân hàm Thiếu úy, trở về Trung đoàn 113, làm B trưởng Trinh sát C53 trực thuộc Trung đoàn.
Cuối năm 1984, cùng 22 sĩ quan dưới sự chỉ đạo của Trung tá Lê Văn Cát, khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 113, ông đi từ Tràng Định, Cao Lộc, bình độ 400, Lạng Sơn; sau đó sang Cao Bằng, qua Trùng Khánh, Phục Hòa, các xã giáp biên giới rồi về Thái Nguyên. Trong một tháng, ông cùng lực lượng huấn luyện bộ đội trinh sát C53.
Tháng 2/1985, ông đi Lương Sơn, Hòa Bình tập võ và diễn tập thành công, đến tháng 4/1985 trở về Trung đoàn bộ. Sau đó, ông tiếp tục được điều động lên biên giới Vị Xuyên.
Trên biên giới Vị Xuyên, khi đồng chí Lương, Thượng úy, Đại đội phó C3, D45 hy sinh, Trung đoàn cử Nguyễn Trung Thu lên thay. Ông phối hợp với Tiểu đoàn 45 do đồng chí Phạm Văn Hưởng làm Tiểu đoàn trưởng, anh Vượng làm Tiểu đoàn phó, lấy phiên hiệu 1B, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tá Đỗ Văn Ninh, Phó Tư lệnh Binh chủng Đặc công và Trung tá Phạm Toanh.
Nhiệm vụ chủ yếu của ông trong thời gian này là đi trinh sát, nắm bắt hướng Thanh Thủy. Qua thị sát sơ bộ, ông ghi nhận khu vực có hang Lạng Lò 2 tầng, suối chảy ngày đêm 24 trên 24, thuận tiện cho vận tải, tắm rửa và đưa cơm canh tối lên chốt cho bộ đội.
Từ khu vực ngã ba Thanh Thủy, hướng sông Lô có cao 123 bên phải, đồi Đài bên trái; phía Tây là đồi Chuối, cầu Thiên Bảo qua sông Lô, thị trấn Mông Thủy và khu vực sản xuất nông nghiệp thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Tết năm 1986, ông ăn Tết cùng đơn vị trên Bình Vàng, xã Đạo Đức, Vị Xuyên.

Từ tháng 2/1986, đơn vị chuyển hướng từ Thanh Thủy sang Không Tên. Theo lời kể của Nguyễn Trung Thu, hướng Không Tên toàn đồi đất, có những cây bương rất lớn, với bình độ 1509 và điểm cao 1545; lực lượng Đặc công chủ yếu tập trung tại điểm cao 1509.
Nguyễn Trung Thu cùng Bích và Lanh đi trinh sát để tổ chức đánh 1509. Đến 18 giờ ngày 08/8/1986, ông đạp phải mìn 625A, mìn đè nổ, bị thương và được đồng đội đưa về tuyến sau qua Viện Hà Giang, Viện 93, Viện 106, Đoan Hùng, Vĩnh Phúc.
Năm 1987, ông về Bộ Tư lệnh Đặc công, nằm ở C2 Chính sách. Tháng 10/1988, ông được giám định thương tật 71%, thương binh loại 2. Ngày 6/6/1989, ông phục viên về quê, làm Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh lâm thời.
Đến ngày 20/12/1991, Nguyễn Trung Thu làm công tác khuyến học, Hội Cha mẹ học sinh đến năm 2006, sau đó do ốm nên làm đơn xin nghỉ đến nay. Từ ngày phục viên, do bị thương mất một chân, cuộc sống của ông gặp nhiều khó khăn.
Người vợ của ông là Hồ Thị Trang, cũng sinh năm 1961, từng là bạn học thời phổ thông cùng quê. Bà Trang nhập ngũ tháng 4/1981, thuộc Quân đoàn 2, tại ngũ đến tháng 2/1984 thì ra quân; đến năm 1984, trong một lần về phép, Nguyễn Trung Thu tình cờ gặp lại người bạn học cũ và hai người nên duyên vợ chồng.
Hai vợ chồng có ba con gái. Con gái đầu học Đại học Sư phạm Huế, khoa Sinh; con gái thứ hai học Đại học Kinh tế Đà Nẵng; con gái thứ ba học Đại học Ngoại thương Hà Nội, khoa Thương mại quốc tế. Năm 2024, ba người con xây cho bố mẹ một căn nhà.
Sau hơn 40 năm rời nghề trinh sát, Nguyễn Trung Thu vẫn có thể nhớ lại những khu vực từng cùng đồng đội dò dẫm, bám nắm mục tiêu tại Vị Xuyên. Khi được đề nghị vẽ lại sơ đồ các vị trí trinh sát trước khi bị thương, ông nhanh chóng lấy giấy bút và sau khoảng 20 phút viết, vẽ, xóa, ông hoàn thành sơ đồ khu vực Thanh Thủy.
Sơ đồ do Nguyễn Trung Thu vẽ ghi lại khu vực ông từng nhiều đêm trinh sát, điều nghiên mục tiêu để báo cáo cấp trên. Cuộc gặp đồng đội vì thế không chỉ gợi lại những năm tháng chiến đấu mà còn nối lại ký ức giữa những người từng cùng nhau trải qua chiến trường.
Trước lúc chia tay, Nguyễn Trung Thu ôm người đồng đội và nói: “Tôi nay lúc nhớ, lúc quên. Nhưng anh, đồng đội vào thăm thằng Thu Cụt này thì nó luôn nhớ, không bao giờ quên. Những đồng đội đã cùng tôi trong những ngày tháng bám giữ đất Vị Xuyên thì tôi không bao giờ quên.”
Thiên An (tổng hợp)
