Đặc sản quê nhà tìm đường trở thành thương hiệu OCOP

Từ Thái Nguyên, Cao Bằng đến Tây Nguyên, chương trình OCOP đang mở hướng phát triển giá trị nông sản địa phương thông qua chất lượng, bản sắc vùng miền và câu chuyện của người sản xuất.

Những sản vật quen thuộc như chè Tân Cương, hạt dẻ Trùng Khánh, vải thiều Bắc Giang hay cà phê Tây Nguyên mang theo dấu ấn riêng của từng vùng đất. Khi được đầu tư chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường, các sản phẩm này có cơ hội vượt khỏi phạm vi tiêu thụ tại địa phương.

Giá trị của một đặc sản không chỉ nằm ở nguyên liệu hay hương vị. Đằng sau mỗi sản phẩm còn có điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất, kỹ thuật chế biến và những nét văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Mỗi sản vật mang dấu ấn riêng của vùng đất

Ở trung du và miền núi phía Bắc, chè, quế, hồi, mật ong, dược liệu và trái cây bản địa tạo nên nguồn nguyên liệu đa dạng. Chè Tân Cương của Thái Nguyên không chỉ được nhận diện qua hương vị, màu nước mà còn gắn với cách chế biến và văn hóa thưởng trà của địa phương.

Tại Bắc Giang, vải thiều đã trở thành một sản vật tiêu biểu. Việc phát triển thêm các sản phẩm chế biến từ loại quả này giúp mở rộng cách tiêu thụ, đồng thời tạo cơ hội nâng cao giá trị nông sản. Trong khi đó, mắc ca, sơn tra, mật ong, thịt trâu gác bếp, chè Shan tuyết, mận hậu, đào và dược liệu phản ánh những đặc trưng của vùng Tây Bắc.

Hạt dẻ Trùng Khánh góp phần tạo dấu ấn cho nông sản đặc trưng của Cao Bằng.
(Ảnh minh họa: TNM)

Ở đồng bằng sông Hồng, sản phẩm OCOP thường gắn với làng nghề, thực phẩm chế biến, nông sản chất lượng cao và hàng thủ công mỹ nghệ. Miền Trung có lợi thế về đặc sản biển, cây dược liệu và nghề truyền thống; Tây Nguyên nổi bật với cà phê, hồ tiêu, mắc ca, ca cao; còn Nam Bộ có thế mạnh về trái cây nhiệt đới, thủy sản và thực phẩm chế biến.

Sự khác biệt ấy tạo cơ hội để mỗi địa phương lựa chọn thế mạnh phù hợp. OCOP không hướng các vùng miền đến những sản phẩm giống nhau, mà khuyến khích từng nơi phát huy nguồn nguyên liệu, nghề truyền thống và bản sắc riêng.

Một sản phẩm muốn tạo dựng thương hiệu cần nhiều hơn nguyên liệu tốt. Vùng trồng, quy trình sản xuất, chế biến, bao bì, khả năng truy xuất nguồn gốc và hệ thống phân phối đều góp phần quyết định giá trị của sản phẩm trên thị trường.

Với chè, thông tin về vùng nguyên liệu, người trồng và phương thức canh tác có thể giúp người mua hiểu rõ hơn về sản phẩm. Với nước mắm, nguồn cá, vùng biển và phương pháp chế biến là những yếu tố tạo nên dấu ấn. Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển đổi từ việc chỉ bán những gì sẵn có sang phát triển sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường mà vẫn giữ được bản sắc địa phương.

Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến xuất xứ, chất lượng và tính bền vững. Vì thế, câu chuyện về người sản xuất, điều kiện hình thành sản phẩm và giá trị đối với cộng đồng có thể trở thành một phần quan trọng trong việc xây dựng niềm tin.

Bản sắc cũng tạo ra hướng cạnh tranh khác cho nông sản. Nếu chỉ dựa vào giá bán, sản phẩm dễ chịu sức ép từ những mặt hàng tương tự. Ngược lại, chất lượng ổn định cùng đặc trưng vùng miền có thể giúp sản phẩm tạo vị trí riêng trên thị trường.

Mật ong gắn với hệ thực vật miền núi, gạo từ giống lúa bản địa hay sản phẩm thủ công mang hoa văn truyền thống đều có thể tạo dấu ấn nếu những giá trị ấy được thể hiện bằng chất lượng thực tế. Nhờ đó, các sản vật từng chủ yếu tiêu thụ trong gia đình hoặc tại chợ địa phương có thêm cơ hội tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử và thị trường du lịch.

Sản phẩm cà phê Tây Nguyên thể hiện đặc trưng nông sản vùng miền và tiềm năng phát triển thương hiệu. (Ảnh minh họa: TNM)

Một sản phẩm OCOP có sức lan tỏa còn có thể góp phần quảng bá địa phương. Chè gắn với Thái Nguyên, vải thiều gắn với Bắc Giang hay cà phê gắn với Tây Nguyên là những ví dụ về mối liên hệ giữa sản vật và hình ảnh vùng đất.

Khi kết hợp với du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng, sản phẩm có thể tạo thêm nhu cầu tham quan vùng nguyên liệu, trải nghiệm quy trình sản xuất, tìm hiểu văn hóa và mua hàng tại chỗ. Một vùng chè có thể trở thành điểm tham quan, một làng nghề có thể mở ra không gian trải nghiệm, còn trang trại nông nghiệp có thể kết hợp hoạt động giáo dục và nghỉ dưỡng.

Tuy nhiên, tên gọi địa phương và câu chuyện truyền thống không thể thay thế chất lượng. Các chủ thể OCOP cần chú trọng tiêu chuẩn sản xuất, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, thiết kế bao bì, bảo vệ thương hiệu và mở rộng thị trường. Chế biến sâu cũng là hướng cần quan tâm để giảm phụ thuộc vào việc bán nguyên liệu thô.

Nguồn nguyên liệu ổn định là điều kiện quan trọng để duy trì chất lượng. Hợp tác xã có thể giữ vai trò liên kết nông dân với doanh nghiệp, nhà khoa học và thị trường. Cùng với đó, sản xuất tiết kiệm nước, giảm sử dụng hóa chất, tận dụng phụ phẩm và dùng bao bì thân thiện với môi trường sẽ góp phần nâng cao tính bền vững.

OCOP vì thế không chỉ là việc phát triển thêm sản phẩm được công nhận. Giá trị lâu dài nằm ở khả năng trả lời rõ ràng sản phẩm đến từ đâu, có gì khác biệt, ai làm ra và vì sao người tiêu dùng nên lựa chọn. Khi bản sắc được chuyển hóa thành chất lượng và thương hiệu có sức sống, những sản vật bình dị của nông thôn có thể trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế địa phương.

Nguyên Hương (tổng hợp)