Hơn 30 năm gắn bó với hát Then, chị Đào Thị Thoa ở xã Đức Lương, tỉnh Thái Nguyên, vẫn miệt mài gìn giữ tiếng đàn Tính, lời Then, mong di sản văn hóa của người Tày được tiếp nối qua nhiều thế hệ.
- Hơn 6 tấn thực phẩm đông lạnh bị phát hiện tại biên giới Quảng Ninh
- Pháp tăng cường an ninh trước làn sóng biểu tình
- 14 năm sau ca sinh đặc biệt, cuộc sống gia đình bà Hương ra sao?
Tình yêu với Then đến với chị Thoa từ những đêm mùa đông bên bếp lửa, khi còn nhỏ được nghe cha mẹ cất lời hát. Từ những câu ca thấm vào ký ức tuổi thơ, người phụ nữ sinh năm 1977 đã dành hơn nửa cuộc đời để học hỏi, thực hành và gìn giữ loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình.
Từ lời hát bên bếp lửa đến hành trình hơn 30 năm gắn bó
Trong những nếp nhà sàn ở xã Đức Lương, tiếng đàn Tính và lời Then vẫn hiện diện trong đời sống cộng đồng người Tày. Với chị Đào Thị Thoa, những làn điệu ấy không chỉ là nghệ thuật dân gian mà còn lưu giữ ký ức gia đình, bản làng và tình cảm dành cho quê hương.
Chị Thoa kể, từ thuở nhỏ, vào những đêm đông ngồi bên bếp lửa, chị thường được nghe bố mẹ hát Then. Nghe nhiều lần, những câu hát dần trở nên thân thuộc, in sâu trong trí nhớ.
“Thuở tôi còn bé, vào những đêm đông ngồi bên bếp lửa bập bùng, tôi đều được nghe bố mẹ hát Then. Ngày qua ngày, nghe nhiều thành quen, tôi dần thuộc lòng từng câu, từng chữ. Làn điệu ấy cứ thế ngấm vào tâm hồn mình lúc nào không hay”, chị Thoa nhớ lại.

Tuy nhiên, thuộc lời ca mới chỉ là bước đầu. Để trực tiếp thể hiện một bài Then, người hát phải biết cầm đàn, giữ nhịp, lấy hơi và luyến láy sao cho giọng hát hòa quyện với tiếng đàn. Theo chị Thoa, nếu chỉ nhớ lời mà không làm chủ được nhịp điệu, câu hát sẽ khó truyền tải trọn vẹn cái hay của Then.
“Không phải cứ thuộc lời là có thể hát được đâu. Muốn câu Then tròn trịa, người hát phải làm chủ được nhịp đàn, bởi tiếng đàn và giọng hát luôn hòa quyện với nhau. Nếu lệch nhịp, hồn cốt của câu hát, bài ca sẽ trở nên rời rạc”, chị chia sẻ.
Trong nghệ thuật hát Then, đàn Tính giữ vai trò quan trọng, tạo nên âm sắc đặc trưng và nâng đỡ giọng hát. Tiếng đàn khi khoan thai, trầm lắng, lúc ngân nga, dìu dặt, dẫn dắt cảm xúc của người nghe.
Để tạo nên âm thanh ấy, việc chế tác đàn Tính đòi hỏi sự tỉ mỉ qua từng công đoạn. Một cây đàn thường có ba bộ phận chính gồm bầu đàn, cần đàn và dây đàn. Bầu đàn được làm từ quả bầu già phơi khô, có hình dáng tròn đều, kích thước khoảng 15-25cm; mặt đàn thường sử dụng gỗ ngô đồng, được gia công mỏng để tạo độ cộng hưởng.
Trên mặt đàn, các lỗ thoát âm được tạo hình cẩn thận nhằm giúp âm thanh vang và rõ hơn. Cần đàn làm từ gỗ, phải thẳng, dài và có bề mặt nhẵn để người chơi thuận tiện khi bấm dây, luyến láy. Dây đàn trước đây thường được làm từ tơ xe, ngày nay có thể thay bằng dây nilon để tăng độ bền và thuận tiện khi sử dụng.
Mỗi bộ phận góp phần tạo nên âm sắc riêng của nhạc cụ. Nhưng để tiếng đàn thực sự hòa vào lời Then, người thực hành còn cần sự kiên trì, cảm nhận tinh tế và hiểu biết về không gian văn hóa đã nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật này qua nhiều thế hệ.
Giữ mạch nguồn Then trước những đổi thay
Then không chỉ là lời ca, tiếng hát mà còn gắn với đời sống tinh thần và tín ngưỡng của đồng bào Tày. Qua những làn điệu được trao truyền, người nghe có thể cảm nhận thế giới quan, tâm tư và ước vọng về cuộc sống bình an, tốt đẹp.

Trong các nghi lễ truyền thống, hát Then mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thể hiện sự giao hòa giữa con người với trời đất và thế giới tâm linh theo quan niệm dân gian. Chiều sâu văn hóa ấy tạo nên sức hấp dẫn riêng, đồng thời đòi hỏi người thực hành phải hiểu và trân trọng những giá trị được gửi gắm trong từng câu hát.
Hiện nay, việc truyền dạy Then ở nhiều cộng đồng chủ yếu vẫn dựa vào phương thức truyền khẩu. Người học tiếp nhận làn điệu từ những người đi trước trong gia đình và bản làng. Cách trao truyền này giữ được sự gần gũi, tự nhiên, nhưng cũng gặp khó khăn khi người trẻ ngày càng ít có điều kiện gắn bó với không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống.
“Giới trẻ giờ đây thường lập nghiệp xa quê, làm việc tại các khu công nghiệp hoặc thành phố, thậm chí định cư tại đó. Vì vậy, các em ít có điều kiện gần gũi với loại hình nghệ thuật này”, chị Thoa trăn trở.
Thực tế ấy khiến việc bảo tồn Then không thể chỉ dừng lại ở những người đang thực hành. Điều quan trọng là tạo được sự quan tâm, yêu thích và chủ động tiếp nhận từ thế hệ trẻ. Mỗi người học thêm một làn điệu, mỗi lần tiếng đàn vang lên trong sinh hoạt cộng đồng đều góp phần nối dài mạch nguồn di sản.
Bên cạnh phương thức truyền dạy trực tiếp, công nghệ số cũng mở ra cơ hội đưa Then đến gần hơn với công chúng. Việc ghi âm, lưu trữ và giới thiệu các làn điệu trên nền tảng số có thể giúp di sản vượt khỏi không gian bản làng, tiếp cận nhiều người hơn, nhất là giới trẻ.
Những tư liệu được lưu giữ còn có ý nghĩa đối với công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Từ chất liệu dân gian, các giai điệu truyền thống có thể tiếp tục khơi nguồn sáng tạo, đóng góp cho sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa.
Giữa những đổi thay ấy, tại xã Đức Lương, chị Thoa vẫn bền bỉ với niềm đam mê đã theo mình hơn 30 năm. Với chị, gìn giữ Then không phải là việc gì quá lớn lao, mà đơn giản là tiếp tục hát, tiếp tục thực hành và truyền lại những gì đã được cha mẹ trao truyền.
“Tôi còn hát được ngày nào thì còn giữ ngày đó. Sau này, nếu con cháu có tâm muốn học, vẫn còn người truyền dạy để làn điệu này không bị lãng quên”, chị Thoa bộc bạch.
Cùng với nỗ lực của những người thực hành như chị Thoa, chính quyền xã Đức Lương xác định bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày là nhiệm vụ gắn với phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao đời sống tinh thần của người dân.
Thông qua các hoạt động giao lưu, biểu diễn và sinh hoạt cộng đồng, địa phương khuyến khích người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, chủ động gìn giữ và trao truyền bản sắc văn hóa dân tộc. Việc gắn bảo tồn hát Then với đời sống thường nhật, nghề trồng chè và các hoạt động văn hóa tại địa phương cũng góp phần tạo thêm không gian để di sản được thực hành.
Hơn 30 năm qua, chị Đào Thị Thoa vẫn giữ tiếng đàn, lời hát đã gắn bó từ thuở nhỏ. Chặng đường ấy cho thấy, di sản không chỉ được lưu giữ trong những bản chép tay hay không gian trưng bày, mà trước hết phải sống trong cộng đồng, qua những con người tiếp tục thực hành và trao truyền bằng tình yêu văn hóa quê hương.
Thiên An (tổng hợp)
