Thái Nguyên – Ông Vũ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Dược và Mỹ phẩm, đề xuất phát triển dược liệu dưới tán rừng theo chuỗi giá trị, gắn bảo tồn tài nguyên với nâng cao thu nhập cho người dân.
Thái Nguyên làm mới du lịch bằng hành trình kết nối di sản- Kéo người yêu cùng hầu tòa trong vụ án ma túy
- Mỹ – Iran đứng trước một ngã rẽ mới
Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 – Phiên đối thoại địa phương tỉnh Thái Nguyên ngày 12/10/2026, ông Tuấn trình bày những lợi thế và điểm nghẽn trong phát triển dược liệu tại cụm Đông Bắc Thái Nguyên. Ông cho rằng cần chuyển từ khai thác tự phát, bán nguyên liệu thô sang mô hình kết nối khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng sản xuất.
Theo số liệu được ông Tuấn dẫn trong tham luận, Việt Nam hiện có hơn 5.100 loài thực vật và nấm có công dụng làm thuốc. Riêng cụm Đông Bắc Thái Nguyên sở hữu điều kiện địa hình, khí hậu và hệ sinh thái thuận lợi cho nhiều loại dược liệu như thất diệp nhất chi hoa, sa nhân tím, khôi nhung, trà hoa vàng, giảo cổ lam, ba kích tím, hà thủ ô đỏ, thạch hộc và bình vôi.
Bên cạnh nguồn tài nguyên tự nhiên, khu vực còn lưu giữ kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng Tày, Nùng, Dao, Mông và Sán Dìu. Nếu được ghi chép, kiểm chứng khoa học và khai thác phù hợp, kho tàng tri thức này có thể đóng góp cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới và bảo tồn văn hóa bản địa.
Thái Nguyên cũng có lợi thế về cơ sở đào tạo và nghiên cứu, gồm Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Y – Dược và Đại học Nông Lâm. Sự hiện diện của các đơn vị này gần vùng nguyên liệu tạo điều kiện thuận lợi để nghiên cứu nhân giống, kiểm soát chất lượng và ứng dụng công nghệ chế biến sâu.
Dù có nhiều lợi thế, nguồn dược liệu vẫn chưa mang lại giá trị kinh tế tương xứng cho người dân. Theo đánh giá của ông Tuấn, hoạt động khai thác còn phân tán, thiếu quy hoạch vùng trồng và phụ thuộc nhiều vào thu hái tự nhiên; sản xuất quy mô hộ nhỏ khiến nguồn cung thiếu ổn định, chất lượng không đồng đều, trong khi việc áp dụng tiêu chuẩn GACP-WHO còn hạn chế.
Sau thu hoạch, nhiều loại cây thuốc mới được phơi khô hoặc sơ chế thủ công để bán cho thương lái. Việc thiếu cơ sở chiết xuất, phân lập hoạt chất và tinh chế khiến địa phương khó tham gia những công đoạn có giá trị gia tăng cao, trong khi các sản phẩm thuốc, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm chế biến sâu có giá trị thị trường lớn hơn nhiều so với nguyên liệu ban đầu.
Đầu ra thiếu ổn định cũng khiến người dân dè dặt khi đầu tư vùng trồng. Tình trạng khai thác thiếu kiểm soát, đào cây non và không chú trọng tái sinh có thể làm suy giảm nguồn gen quý; thu nhập bấp bênh còn khiến người trẻ ít gắn bó với nghề, làm tăng nguy cơ mai một tri thức sử dụng cây thuốc truyền thống.
Một hạn chế khác nằm ở khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất. Nhiều kết quả khoa học chưa được chuyển giao hiệu quả, trong khi người trồng còn thiếu hướng dẫn về nhân giống, kỹ thuật canh tác và thời điểm thu hái nhằm bảo đảm chất lượng.
Để nâng cao giá trị nguồn nguyên liệu, ông Tuấn đề xuất mở rộng hướng sử dụng dược liệu sang ba nhóm chính: dược phẩm, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm thiên nhiên. Với ngành dược, địa phương có thể chú trọng nghiên cứu, chiết xuất và chuẩn hóa hoạt chất; lĩnh vực thực phẩm có thể phát triển trà hòa tan từ trà hoa vàng, chế phẩm thảo mộc và các dạng bào chế phù hợp, trong khi ngành mỹ phẩm có nhu cầu về tinh dầu, xà phòng thảo dược, dầu gội và sản phẩm chăm sóc da.
Việc phát triển thị trường cần đi đôi với tổ chức lại sản xuất. Ông Tuấn kiến nghị đưa diện tích, sản lượng và giá trị kinh tế dược liệu vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và 5 năm của các địa phương thuộc cụm Đông Bắc, đồng thời gắn mục tiêu này với giảm nghèo bền vững, bảo vệ hệ sinh thái và cải thiện đời sống người dân.
Về cơ chế hỗ trợ, tỉnh cần nghiên cứu việc giao đất, giao rừng và giao khoán bảo vệ rừng gắn với quyền lợi phát triển dược liệu theo quy định pháp luật. Các chính sách hỗ trợ vốn vay, giống đạt chất lượng, phân bón sinh học và hệ thống tưới tiêu sẽ giúp người dân giảm chi phí ban đầu, từng bước chuyển sang trồng và chăm sóc dược liệu theo kế hoạch.
Quy hoạch vùng trồng, cấp mã số và áp dụng truy xuất nguồn gốc cũng là những điều kiện cần thiết để kiểm soát chất lượng, đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp chế biến và tạo thuận lợi cho việc mở rộng thị trường.

Một giải pháp quan trọng khác là tăng cường hợp tác giữa giới khoa học và người sản xuất. Các cơ quan nghiên cứu cần được đặt hàng giải quyết những vấn đề cụ thể, từ nhân giống, xác định thời điểm thu hái đến nghiên cứu hoạt chất và chuyển giao công nghệ; các hợp tác xã có thể được hỗ trợ thiết bị sơ chế, máy sấy phù hợp để giảm hao hụt chất lượng sau thu hoạch.
Song song với đó, ông Tuấn đề xuất cơ chế khuyến khích doanh nghiệp quy mô lớn đầu tư nhà máy chiết xuất, chế biến sâu đạt chuẩn GMP tại cụm Đông Bắc hoặc khu vực lân cận. Doanh nghiệp sẽ dẫn dắt thị trường, xây dựng tiêu chuẩn sản phẩm và cam kết bao tiêu dài hạn, còn người dân cùng hợp tác xã tổ chức sản xuất theo yêu cầu đã thống nhất.
Mô hình này cần sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng sản xuất. Trong đó, Nhà nước xây dựng cơ chế hỗ trợ, giới khoa học cung cấp giải pháp công nghệ, doanh nghiệp đảm nhiệm chế biến và thương mại hóa, còn người dân giữ vai trò chủ thể của vùng nguyên liệu.
Theo ông Tuấn, nếu được tổ chức bài bản, ngành dược liệu có thể tạo thêm việc làm, nâng thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời khuyến khích cộng đồng bảo vệ rừng và gìn giữ tri thức bản địa. Khi lợi ích kinh tế gắn với việc duy trì hệ sinh thái, người dân sẽ có thêm động lực bảo tồn nguồn tài nguyên quý.
Phát triển dược liệu theo tinh thần Nghị quyết 57 không chỉ liên quan đến ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mà còn đòi hỏi tổ chức lại sản xuất, chế biến và phân phối lợi ích. Nếu giải quyết được những hạn chế về công nghệ, đầu ra và liên kết chuỗi, Thái Nguyên có cơ hội trở thành địa bàn cung ứng nguyên liệu cho ngành dược, thực phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc.
Kim Yến (tổng hợp)
