Quản lý tài nguyên nước Việt Nam: Bài học từ Singapore và Hà Lan

Lũ lụt năm 2025 bộc lộ nhiều hạn chế trong quản lý nước của Việt Nam. Khí hậu thay đổi nhanh, đô thị hóa mạnh và thiếu không gian thoát nước tạo áp lực lớn. Bài học từ Singapore và Hà Lan mang đến gợi ý thiết thực cho mục tiêu xây dựng hệ thống quản lý nước chủ động và bền vững hơn.

Việt Nam sau lũ 2025: Nhu cầu đổi mới quản lý nước

Cảnh bờ biển khu du lịch Hải Tiến (Thanh Hoá) Sau đợt mưa bão hồi tháng 11/2025. Ảnh: Chụp màn hình/ Tiền Phong)

Nhiều tỉnh chịu thiệt hại nặng trong năm 2025. Nhà cửa bị ngập sâu, giao thông chia cắt và sản xuất đình trệ. Các biện pháp ứng phó hiện nay như gia cố đê điều hay mở cửa xả chủ yếu xử lý tình huống trước mắt. Lũ lớn cho thấy hệ thống hiện tại chưa theo kịp diễn biến khí hậu.

Tốc độ đô thị hóa nhanh làm mất vùng thoát nước tự nhiên. Kênh mương bị thu hẹp hoặc bị lấn chiếm. Nước dồn về vùng thấp nhanh hơn, tạo nguy cơ ngập sâu. Điều này cho thấy Việt Nam cần thay đổi tư duy quản lý nước. Phòng ngừa phải là trọng tâm, thay vì chỉ tập trung xử lý hậu quả sau mỗi đợt thiên tai.

Trong bối cảnh đó, kinh nghiệm của Singapore và Hà Lan giúp mở ra góc nhìn mới. Hai quốc gia có điều kiện khác nhau nhưng đều đạt thành công lớn trong quản lý nước, từ hạ tầng tích hợp đến quy hoạch sống chung với nước.

Singapore: Hạ tầng tích hợp và quản lý nước hiện đại

Sạt lở ở Tỉnh lộ 9 đoạn qua xã Tây Khánh Sơn. (Ảnh: Chụp màn hình/ Người Lao Động)

Singapore có mưa nhiệt đới lớn nhưng hiếm xảy ra lũ nghiêm trọng. Thành công này đến từ tư duy quy hoạch chủ động và hạ tầng tích hợp. Đập Marina, hoàn thành năm 2008, tạo hồ chứa ngay trung tâm thành phố. Công trình kết hợp ba mục tiêu: trữ nước, kiểm soát lũ và bổ sung không gian đô thị.

Hệ thống gồm nhiều cổng xả và máy bơm thông minh. Các thiết bị theo dõi mực nước hoạt động liên tục. Nhờ đó, các khu vực thấp được bảo vệ khi mưa lớn kéo dài. Diện tích ngập của Singapore giảm mạnh so với thập niên 1970. Đây là kết quả của cách quản lý nước dựa trên công nghệ và quy hoạch dài hạn.

Điểm đáng chú ý là khả năng tạo giá trị đa mục đích. Một công trình có thể vừa chống ngập, vừa tạo cảnh quan và phục vụ đời sống. Đây là hướng Việt Nam có thể cân nhắc tại các đô thị ven biển và khu vực tăng trưởng nhanh.

Hà Lan: Sống chung với nước để giảm rủi ro lâu dài

Hà Lan nằm thấp hơn mực nước biển nhưng duy trì an toàn nhờ triết lý “sống chung với nước”. Chiến lược của họ gồm nhiều lớp: giáo dục cộng đồng, bảo vệ vùng trọng yếu, quy hoạch ngập có kiểm soát, phản ứng nhanh và phục hồi vững chắc.

Chương trình Room for the River cho phép một số vùng ngập tự nhiên khi nước dâng. Nhờ đó, áp lực giảm bớt cho khu dân cư. Đây không phải là thất bại của hệ thống mà là một phần của quy hoạch. Nước được dẫn vào vùng đệm tự nhiên, tránh gây ngập sâu ở nơi khác.

Cách tiếp cận này phù hợp với Đồng bằng sông Cửu Long. Khu vực này có tính ngập tự nhiên cao. Nếu quy hoạch khoa học, vùng ngập có kiểm soát sẽ giảm áp lực lũ và vẫn duy trì sinh kế. Đây là hướng quan trọng trong quản lý nước khi khí hậu ngày càng khó lường.

Những hướng đi Việt Nam có thể triển khai

Việt Nam đã xây dựng nhiều hồ chứa, đê điều và hệ thống phòng chống thiên tai. Tuy vậy, các công trình này cần được bổ sung bằng các giải pháp dài hạn hơn. Một số hướng đi gợi ý từ bài học quốc tế gồm:

  • Phát triển hạ tầng tích hợp kết hợp trữ nước, điều tiết lũ và tạo không gian cộng đồng.
  • Ứng dụng giải pháp xanh như mặt đường thấm nước, vườn trên mái và vùng đất ngập để giảm áp lực dòng chảy.
  • Thiết lập vùng ngập có kiểm soát để bảo vệ khu dân cư, đặc biệt vùng trũng.
  • Tăng cường giáo dục cộng đồng về rủi ro nước, nâng cao nhận thức và kỹ năng ứng phó.
  • Phục hồi thông minh sau thiên tai, xây dựng lại theo tiêu chuẩn chống ngập mới.

Lũ lụt năm 2025 là dấu mốc đáng nhớ. Chúng phơi bày thách thức nhưng cũng mở ra cơ hội cải thiện hệ thống quản lý nước. Việt Nam có tiềm năng thực hiện bước chuyển này nếu có kế hoạch dài hạn và giải pháp phù hợp với từng vùng sinh thái.

Theo: Tuổi Trẻ