Sông băng ấm lên và những phút cảnh báo trước thảm họa

Từ một vụ lở đá – băng ở khu vực biên giới Trung Quốc – Nepal, câu hỏi về khả năng nhận biết sớm những thảm họa vùng núi cao lại được đặt ra.

Vụ lở đá – băng xảy ra ngày 26/8 tại khu vực đèo Himalaya cho thấy một mối nguy có thể hình thành âm thầm trong nhiều năm. Khi nhiệt độ tăng, nước băng tan nhiều hơn, các hồ băng mở rộng và cấu trúc sông băng trở nên kém ổn định.

Những thay đổi ấy không dễ quan sát từ mặt đất. Các sông băng nguy hiểm thường nằm ở vùng núi cao xa xôi, nơi điều kiện khí hậu khắc nghiệt khiến việc đặt và duy trì thiết bị quan trắc gặp nhiều trở ngại.

Những thay đổi diễn ra trong nhiều thập kỷ

Theo chuyên gia Zhang Dongqi thuộc Viện Biến đổi Toàn cầu và Khí tượng Cực, thiên tai liên quan đến sông băng vốn không phải hiện tượng mới. Tuy nhiên, khi khí hậu còn ổn định, những sự cố này xảy ra với tần suất thấp hơn.

Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang làm thay đổi điều kiện đó. Hoạt động của con người tại vùng núi cao cũng mở rộng, trong khi vệ tinh viễn thám giúp ghi nhận thêm nhiều sự cố ở những khu vực trước đây khó tiếp cận.

Tại cao nguyên Thanh Tạng, ba kỳ kiểm kê sông băng toàn diện của Trung Quốc cho thấy diện tích băng đã giảm mạnh. Từ khoảng 51.000km2, diện tích này giảm xuống 44.000km2 rồi còn khoảng 39.000km2.

Cùng thời gian, số lượng và diện tích các hồ băng tăng hơn 20% trong giai đoạn 1990-2020. Từ sau năm 2015, những sự cố băng hà đột ngột xuất hiện liên tục trên diện rộng.

Nhiệt độ tăng làm lượng nước tan chảy nhiều hơn. Dòng nước này tập trung vào các vùng trũng, khiến hồ băng nhanh chóng mở rộng.

Khi mưa lớn cực đoan xuất hiện trên nền địa hình không ổn định, nguy cơ vỡ hồ băng và hình thành lũ quét tăng lên.

Một khối băng có thể đã tích tụ những dấu hiệu bất ổn từ trước. Các khe nứt mở rộng, cấu trúc suy yếu rồi chờ một tác động đủ lớn để thay đổi trạng thái.

Đó có thể là một chấn động địa chất nhẹ, một đợt nắng nóng hoặc mưa lớn kéo dài. Khi khối đá và băng sụp xuống, lượng vật chất lớn có thể lao nhanh về khu vực thấp hơn.

Có thể nhìn thấy nguy cơ nhưng khó biết chính xác thời điểm

Các chuyên gia cho rằng khoa học hiện nay có thể đánh giá mức độ mất an toàn của sông băng. Điều khó hơn là xác định chính xác thời điểm một vụ sập băng xảy ra.

Khoảng cách địa lý là một trở ngại lớn. Những sông băng có nguy cơ cao thường nằm ở nơi xa khu dân cư và khó tiếp cận.

Nếu hệ thống vệ tinh hoạt động hiệu quả, sự thay đổi bất thường của mực nước hồ băng có thể được phát hiện trước vài ngày. Khoảng thời gian này tạo điều kiện để phát cảnh báo đối với nguy cơ vỡ hồ băng.

Nhưng với sập băng hoặc lở tuyết đột ngột, mọi thứ diễn ra khác hẳn. Quá trình biến dạng và sụp đổ có thể xảy ra rất nhanh, khiến thời gian cảnh báo cho người dân phía hạ lưu chỉ còn vài phút.

Để dự báo chính xác hơn, các nhà khoa học cần kết hợp nhiều lớp dữ liệu. Đó là thông tin về động đất, nứt gãy, nhiệt độ, mưa, cùng các chỉ số về ứng suất và biến dạng bên trong khối băng.

Một hướng đang được thúc đẩy là xây dựng hệ thống quan trắc ba chiều theo mô hình “Không – Vũ – Đất”. Vệ tinh sẽ theo dõi trên diện rộng, UAV tiếp cận những khu vực cụ thể, còn các trạm tự động và camera AI thu thập dữ liệu ngay tại hiện trường.

Với những thảm họa xảy ra trong vài phút, khoảng thời gian ấy có thể quyết định khả năng người dân kịp rời khỏi vùng nguy hiểm. Nhưng để có được vài phút cảnh báo, dữ liệu phải được tích lũy từ rất lâu trước khi khối băng bắt đầu đổ xuống.

Hoàng Lan (tổng hợp)