HÀ NỘI – Cục Thống kê cho biết khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15-24 tuổi không có việc làm, không tham gia học tập, đào tạo trong quý III/2026, chiếm 11,2% tổng số thanh niên.
- Đạo diễn Đỗ Thanh Hải gia nhập ban lãnh đạo Sun Group
- Cảnh báo đã có, vì sao vụ tấn công trên chuyến bay Flydubai vẫn xảy ra?
- Cao Tiến Đoan và những khoản tiền sau cuộc đấu giá đất
Con số này tăng 195,1 nghìn người so với quý trước, trong bối cảnh quý III thường ghi nhận sự gia tăng nhóm thanh niên NEET do nhiều người vừa rời các trường đại học, cao đẳng hoặc trung cấp để tìm việc. Các chuyên gia cho rằng nếu không được hỗ trợ chuyển tiếp phù hợp, nhóm này có thể trở thành khoảng trống trong sử dụng nguồn nhân lực trẻ về dài hạn.
Theo dữ liệu lao động, việc làm quý III/2026 được Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố, khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15-24 tuổi thuộc nhóm không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, gọi tắt là NEET, chiếm 11,2% tổng số thanh niên.
Cục Thống kê lý giải quý III thường là thời điểm tỷ lệ này tăng bởi nhiều thanh niên vừa tốt nghiệp đại học, cao đẳng hoặc trung cấp và đang chuyển từ môi trường giáo dục sang thị trường lao động.
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Quyền Trưởng Ban Thống kê Dân số và Lao động, Cục Thống kê, Bộ Tài chính, đánh giá tỷ lệ thanh niên NEET của Việt Nam hiện chưa ở mức đáng lo ngại nếu so với mặt bằng chung thế giới.
Báo cáo Xu hướng thị trường lao động thế giới năm 2026 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy tỷ lệ thanh niên NEET trên thế giới năm 2025 là 20%, trong khi con số này tại các nước ASEAN là 16,2%, Thái Lan 12,8% và Ấn Độ 24,2%.
Theo bà Mai, việc tồn tại một bộ phận thanh niên chưa làm việc hoặc học tập, đào tạo là thực tế thường thấy trong quá trình chuyển tiếp từ giáo dục sang việc làm. “Sau khi tốt nghiệp, một bộ phận thanh niên cần thời gian tìm kiếm việc làm phù hợp. Bên cạnh đó, một số thanh niên có thể tạm thời không tham gia học tập, làm việc vì các lý do cá nhân, sức khỏe, gia đình hoặc định hướng lại con đường nghề nghiệp”, bà Mai thông tin.
Tuy chưa phải mức đáng lo ngại, nhóm thanh niên này vẫn đặt ra bài toán về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trẻ và khả năng tạo áp lực cho hệ thống an sinh nếu tình trạng kéo dài.
Bà Mai cho rằng tỷ lệ NEET có thể tiếp tục giảm khi công tác hướng nghiệp, phân luồng giáo dục và kết nối thanh niên với thị trường lao động được thực hiện hiệu quả hơn, qua đó giúp những người đang đứng ngoài học tập và việc làm sớm trở lại quá trình học tập, lao động và phát triển.
Các giải pháp được đặt ra gồm phối hợp giữa cơ sở giáo dục, đào tạo nghề, đơn vị tư vấn hướng nghiệp và chính sách hỗ trợ việc làm; trong đó giáo dục cần cung cấp kiến thức, kỹ năng nền tảng, đào tạo nghề phải bám sát nhu cầu thị trường, còn tư vấn hướng nghiệp cần giúp thanh niên lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và sở thích.
Cùng với đó, việc kết nối cung – cầu lao động và khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng thanh niên được xem là một hướng hỗ trợ quan trọng, nhất là với những người đang gặp khó khăn trong quá trình bước vào thị trường lao động.
Bà Nguyễn Thị Hoàng Nguyên, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin, phân tích dự báo chiến lược và Dịch vụ công, Bộ Nội Vụ, cho rằng quá trình chuyển tiếp từ trường học sang thị trường lao động cần được chuẩn bị từ sớm thông qua tư vấn hướng nghiệp, đồng thời thúc đẩy các mô hình đào tạo kép và liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp.
Theo bà Nguyên, các trung tâm dịch vụ việc làm có thể hỗ trợ nhóm thanh niên NEET bằng thông tin tuyển dụng, cơ hội việc làm và các khóa đào tạo ngắn hạn, giúp họ chủ động tìm việc hoặc tham gia đào tạo nghề.
Việc hỗ trợ cũng cần đi cùng bảo đảm quyền lợi của người lao động trẻ, trong đó có mở rộng các hình thức bảo hiểm xã hội linh hoạt, ngắn hạn cho những hình thức việc làm linh động như làm việc từ xa hoặc freelancer.
Từ góc độ ILO, ông Felix Weidenkaff, Chuyên gia Chính sách Việc làm và Thị trường Lao động, Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu dự báo và chủ động ứng phó với những thay đổi của thị trường, đồng thời đầu tư cho việc làm năng suất, kỹ năng tương lai, quản trị thị trường lao động và hệ thống thông tin.
Theo ông Felix Weidenkaff, dù không thể dự đoán chính xác tương lai việc làm, các chính sách vẫn có thể góp phần định hình tương lai đó dựa trên các tiêu chuẩn lao động cơ bản và nguyên tắc về việc làm thỏa đáng.
Các chính sách kinh tế vĩ mô thúc đẩy việc làm và chính sách thị trường lao động cần được chú trọng để mở rộng cơ hội việc làm thỏa đáng trong những ngành có giá trị gia tăng cao hơn, bên cạnh việc tăng cường hợp tác giữa cơ sở giáo dục, đào tạo và doanh nghiệp.
Việc xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả, cải thiện quản trị thị trường lao động, thúc đẩy đối thoại xã hội và mở rộng các sáng kiến phát triển kỹ năng do doanh nghiệp chủ trì cũng được chuyên gia ILO đề cập.

Một hướng khác là đầu tư cho học tập suốt đời, kỹ năng số, kỹ năng xanh và kỹ năng công nghệ cao, đồng thời tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp để người lao động trẻ nâng cao khả năng tìm việc và phát triển nghề nghiệp trong một nền kinh tế liên tục thay đổi.
Trong quá trình đó, cơ hội bình đẳng, quyền lợi của người lao động trong các hình thức việc làm mới và đối thoại xã hội cần được bảo đảm, cùng với việc tăng cường hướng nghiệp để thanh niên chuyển tiếp thuận lợi hơn từ trường học sang thị trường lao động.
Mục tiêu cuối cùng là mở rộng việc làm có chất lượng, thích ứng với những hình thức việc làm mới và duy trì các nguyên tắc về việc làm thỏa đáng, qua đó hạn chế khoảng thời gian thanh niên đứng ngoài cả việc học lẫn thị trường lao động.
Mộc Linh (tổng hợp)
