Lý Nam Đế (tên thật là Lý Bí) là vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, người đã khai sinh ra nhà Tiền Lý và dựng nên nước Vạn Xuân với khát vọng về một giang sơn xã tắc thịnh vượng mãi mãi đến muôn đời. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những chiến công lẫy lừng chống lại ách đô hộ nhà Lương, nhưng khởi nguồn của vị anh hùng hào kiệt này lại nằm ở một vùng quê cổ kính tại Thái Nguyên, nơi dấu ấn tuổi thơ “chú tiểu” Lý Bí vẫn còn được lưu giữ trang trọng.
- Dương Tự Minh: Vị Phò mã Lang lừng danh và Đức Thánh bất tử trong lòng dân
- Sử Việt dậy sóng: Hậu duệ vua Hàm Nghi trở về, tiết lộ sự thật chưa từng công bố!
- Sự tự tin thực sự đến từ ba điều: dám làm, có khả năng chấp nhận và không quan tâm
Từ Thần Tướng lẫm liệt đến khởi nghĩa giành lại Giang Sơn
Lý Bí là người có tổ tiên thuộc tộc Bách Việt, vốn đã phải trốn tránh nạn binh đao từ cuối thời Tây Hán mà di chuyển đến Giao Châu. Sự ra đời của ông được bao phủ bởi những yếu tố thần thoại, được ghi chép lại trong “Việt Thường thị tiền Lý Nam Đế ngọc phả cổ lục”.
Tương truyền, mẹ ông trong lúc nằm nghỉ đã thiếp đi và thấy trời đất tối đen. Bà ngước nhìn thấy hai con rồng, một màu trắng và một màu vàng, cùng tranh giành sao Thái dương. Kì lạ thay, sao Thái dương bất ngờ giáng xuống miệng Thái bà, trong khi rồng vàng lại giáng thẳng xuống bụng bà. Tỉnh dậy sau giấc mộng, Thái bà kể lại cho Thái ông, và ông cho rằng đây là điềm báo nhà có phúc lớn.
Vào giờ Thìn ngày 12 tháng 9 năm Quý Tỵ, Lý Bí được sinh hạ, với thần tướng lẫm liệt và diện mạo khác thường, không phải người thường. Diện mạo ông được mô tả là có mày như mày vua Nghiêu, mắt như mắt vua Vũ, và lưng như lưng vua Thang. Khi Lý Bí ra đời, không gian tràn ngập hương thơm và khí lành, có mây sa sầm và mưa gió nổi lên.
Thuở nhỏ, Lý Bí tỏ ra là một đứa trẻ thông minh. Tuy nhiên, ông sớm chịu cảnh mồ côi, cha mất khi ông lên 5 tuổi, và chỉ hai năm sau đó (7 tuổi) thì mẹ cũng qua đời. Lý Bí sau đó chuyển đến sống cùng người chú ruột. Một bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông là khi một vị thiền sư đi ngang qua nhìn thấy cậu bé Lý Bí khôi ngô, tuấn tú và xin đón ông về chùa nuôi dạy. Sau 10 năm chuyên cần đèn sách, Lý Bí đã trở thành người học rộng hiểu sâu, thông thạo cả văn lẫn võ.
Với tài năng xuất chúng, Lý Bí được Thứ sử Tiêu Tư của nhà Lương mời giữ chức Giám quân ở Đức Châu (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Tuy nhiên, trong thời gian làm quan, ông nhận thấy rõ sự hà khắc và tàn bạo của chính quyền nhà Lương đối với người dân. Bất bình với ách đô hộ tàn ác, Lý Bí đã từ bỏ chức quan về quê hương chiêu mộ binh mã để nổi dậy chống lại chính quyền cai trị.
Nghĩa quân của Lý Bí nhanh chóng lớn mạnh, thanh thế vang xa và được nhiều người hưởng ứng. Nhiều người nuôi chí chống lại đô hộ nhà Lương, nay thấy cơ hội đã đến liền gia nhập quân của ông. Trong số đó có tù trưởng vùng Chu Diên (Hải Dương ngày nay) là Triệu Túc và con trai Triệu Quang Phục, cùng cha con Phạm Lương và nữ tướng Phạm Thị Toàn (những người đã bán cả tài sản để nhập nghĩa quân). Các hào kiệt, tù trưởng, thủ lĩnh các địa phương lần lượt theo về với Lý Bí.
Cuối năm 541, Lý Bí chia quân tiến đánh quân Lương. Quân của Thứ sử Tiêu Tư không thể chống cự, và các cánh quân của Lý Bí cùng tiến đánh thành Long Biên. Thứ sử Tiêu Tư thua trận, phải bỏ chạy về Quảng Châu. Năm 542, quân Lý Bí tiếp tục chiếm được các châu phía Bắc và thu phục toàn bộ Giao Châu.
Khi vua Lương Vũ Đế cử Tôn Quýnh và Lương Tử Hùng đem binh sang lấy lại Giao Châu, Lý Bí đã chủ động cho quân đến bán đảo Hợp Phố (khu vực Quảng Tây và Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay) để đón đánh,. Trong trận chiến quyết định này, nữ tướng Phạm Thị Toàn đã tham gia và lập công lớn, khiến quân Lương thiệt hại nặng nề, tan rã hoàn toàn.
Lợi dụng lúc quân Giao Châu tiến đánh quân Lương ở phía Bắc, quân Lâm Ấp từ phía Nam vượt dãy Hoành Sơn, chiếm quận Nhật Nam và tiến đánh quận Cửu Đức. Lý Bí liền sai tướng Phạm Tu xuống phía Nam, cùng nữ tướng Phạm Thị Toàn (vừa đánh tan quân Lương) đánh bại quân Lâm Ấp.
Mùa xuân năm 544, Lý Bí lên ngôi vua, xưng là Lý Nam Đế và đặt tên nước là Vạn Xuân, với khát vọng mong muốn giang sơn mãi mãi đến muôn đời. Ông định đô ở cửa sông Tô Lịch và xây dựng chùa Khai Quốc (sau này là chùa Trấn Quốc) nằm trên bán đảo nhỏ của hồ Tây. Triều đình Vạn Xuân được thành lập với hai ban văn, võ; Triệu Túc làm Thái phó đứng đầu ban võ, còn Tinh Thiều đứng đầu ban văn.
Dấu ấn thiêng liêng tại chùa Hương Ấp, Thái Nguyên
Vùng đất Cổ Pháp, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, ngày nay được xác nhận là quê hương của Lý Nam Đế, vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt. Làng Cổ Pháp là một trong những làng cổ nhất trong vùng và có sự phát triển mạnh mẽ về văn hóa đền chùa. Nơi đây không chỉ là quê hương mà còn là nơi gắn liền với những năm tháng thơ ấu quan trọng của Lý Bí.
Chùa Hương Ấp, còn được gọi là chùa Châu Ấp, tọa lạc tại làng Cổ Pháp, là ngôi chùa cổ gắn liền với quãng thời gian tu hành ban đầu của “chú tiểu” Lý Bí,. Dù không biết chính xác thời gian xây dựng, nhưng ngôi chùa này được đoán chừng phải có mặt trước năm 503.
Sau khi mồ côi cả cha và mẹ, Lý Bí sống cùng chú ruột. Vị Pháp tổ thiền sư đã đến chùa Châu Ấp làm lễ và trông thấy Lý Bí có diện mạo khôi ngô, tuấn tú. Thiền sư đã xin đưa cậu bé về làm “con nuôi cửa Phật” để dạy dỗ học hành. Đến năm 13 tuổi, Lý Bí theo vị Pháp tổ thiền sư này về tu hành tại chùa Giang Xá (nay thuộc thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, Hà Nội). Nhờ sự dạy dỗ này, Lý Bí đã có được nền tảng kiến thức sâu rộng và tài năng văn võ xuất chúng, làm tiền đề cho sự nghiệp dựng nước sau này.
Dù đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử và nhiều lần trùng tu, sửa chữa, chùa Hương Ấp vẫn tồn tại đến ngày nay. Chùa nằm trên đỉnh núi Chùa, với phía trước có ngòi Gạo, núi Cao Vương, đồng Tráng và gò Cỗ Xôi. Hiện tại, trong chùa, ngoài nhà chính thờ Phật và nhà bên trái thờ Mẫu, còn có một ngôi nhà nhỏ 3 gian bên phải thờ tượng vị Pháp tổ thiền sư đã có công nuôi dạy Lý Bí. Chùa Hương Ấp cũng là nơi lưu giữ nhiều cổ vật xưa quý giá như ấm chén, bát đĩa, đồ gốm sứ, và những đồ vật bằng đá từ các thời kỳ trước.
Chùa Hương Ấp là một di tích lịch sử quan trọng, nằm trong quần thể di tích Lý Nam Đế tại Thái Nguyên, cùng với Đền Mục (thờ Lý Nam Đế) và Chùa Mãn Tăng. Quần thể di tích này còn bao gồm các địa danh gắn liền với sự nghiệp đánh giặc cứu nước của Lý Nam Đế như Cánh đồng Tráng, bãi quần ngựa, và đồi Cao Vương.
Năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng Đền Mục và Chùa Hương Ấp là di tích lịch sử cấp Quốc gia. Chùa Mãn Tăng sau đó cũng được UBND tỉnh Thái Nguyên xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2016. Để tưởng nhớ vị vua đã có công đánh đuổi giặc Lương đô hộ, người dân địa phương Cổ Pháp vẫn duy trì truyền thống tổ chức lễ hội với nhiều hoạt động và trò chơi dân gian vào dịp tháng Giêng hàng năm.
Năm 2019, UBND thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) đã lập quy hoạch tổng thể khu di tích Lý Nam Đế với diện tích 54ha, trong đó Đền Mục được chọn làm trung tâm. Dự án quy hoạch bao gồm nhiều hạng mục chức năng quan trọng như Tượng đài Lý Nam Đế, khu công viên cảnh quan sinh thái, và các khu dịch vụ.
