Chùa Tích Sơn, di tích lịch sử cấp Quốc gia giữa nhịp sống đô thị

Chùa Tích Sơn là di tích lịch sử cấp Quốc gia, lưu giữ nhiều cổ vật quý và giá trị văn hóa, tâm linh đặc sắc giữa lòng đô thị Vĩnh Yên.

Chùa Tích Sơn – Dấu ấn lịch sử, tâm linh giữa đô thị hiện đại

Chuông đồng đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). (Ảnh: Chụp màn hình báo Phú Thọ). 

Giữa nhịp sống sôi động của thành phố Vĩnh Yên, chùa Tích Sơn hiện lên như một khoảng lặng hiếm hoi, nơi thời gian dường như chậm lại theo từng tiếng chuông ngân vang. Ngôi chùa cổ, còn có tên chữ là Ngũ Phúc Tự, tọa lạc trên khu đất rộng gần 1ha, là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư Tích Sơn xưa, gồm năm làng cổ: Tiếc, Hạ, Khâu, Đậu, Sậu.

Theo các tư liệu lịch sử, chùa được khởi dựng từ cuối thời Lý – đầu thời Trần, giai đoạn Phật giáo phát triển rực rỡ trong đời sống xã hội Việt Nam. Trải qua nhiều biến động lịch sử và các lần trùng tu, kiến trúc hiện nay của chùa mang đậm dấu ấn thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Tổng thể công trình được quy hoạch theo lối “nội công ngoại quốc”, chính điện hình chữ Đinh, hệ thống cột gỗ lớn, tạo nên không gian trang nghiêm, cổ kính.

Điểm đặc biệt của chùa Tích Sơn là vị trí “giữa phố mà không ồn”, nơi con người có thể tìm về sự tĩnh tại, cân bằng tâm hồn giữa đời sống đô thị ngày càng hối hả. Chính sự hiện diện bền bỉ ấy đã khiến ngôi chùa trở thành biểu tượng tâm linh, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của nhiều thế hệ người dân địa phương.

Kho tàng cổ vật quý và vai trò lịch sử đặc biệt

Chùa Tích Sơn còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ. (Ảnh: Chụp màn hình báo Phú Thọ). 

Không chỉ mang giá trị kiến trúc, chùa Tích Sơn còn lưu giữ một hệ thống cổ vật có giá trị lớn về lịch sử và nghệ thuật. Nổi bật là 16 pho tượng cổ, trong đó có bộ tượng Thập điện Minh Vương được chạm khắc gỗ nguyên khối, thể hiện kỹ thuật điêu khắc tinh xảo của cha ông. Đặc biệt, tượng Phật A Di Đà đúc bằng đồng từ thời Lý được đánh giá là hiện vật quý hiếm, mang phong cách nghệ thuật đặc trưng của thời kỳ này.

Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ chuông đồng đúc năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), khánh đồng cổ và cây hương đá thời Lê. Mỗi hiện vật không chỉ mang giá trị vật chất mà còn là chứng nhân cho chiều dài lịch sử hàng trăm năm của ngôi chùa. Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, chùa Tích Sơn từng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng tòa Quan Chánh sứ, chùa đã được di dời về vị trí hiện nay. Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nơi đây từng là cơ sở cách mạng, nuôi giấu cán bộ, tổ chức họp bí mật, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Có thời kỳ, chùa còn nhường không gian thờ tự để làm trường học, trụ sở hành chính, thể hiện tinh thần “đạo gắn với đời” rất đặc trưng.

Lễ hội, sinh hoạt văn hóa và giá trị di sản hôm nay

Cứ mỗi độ xuân về, người dân lại nô nức hướng về lễ hội chùa Tích Sơn.
(Ảnh: Chụp màn hình báo Phú Thọ). 

Chùa Tích Sơn không chỉ là điểm đến tâm linh mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng giàu bản sắc. Hằng năm, lễ hội chùa được tổ chức vào mùng 2 Tết Nguyên đán và mùng 10 tháng Giêng, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương. Trong đó, ngày hội mùng 10 tháng Giêng được xem là lễ chính, nổi bật với nghi thức rước kiệu hoa từ các khu dân cư, thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng.

Bên cạnh các hoạt động lễ hội truyền thống, chùa còn tổ chức nhiều hoạt động giáo dục đạo đức, các khóa tu mùa hè dành cho thanh thiếu niên, góp phần định hướng lối sống lành mạnh, nhân văn trong xã hội hiện đại. Tiếng chuông chùa ngân vang mỗi sớm chiều trở thành âm thanh quen thuộc, nhắc nhở con người sống chậm lại, hướng thiện và biết trân trọng những giá trị bền vững.

Năm 1992, chùa Tích Sơn được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Danh hiệu này không chỉ ghi nhận giá trị lịch sử, văn hóa của ngôi chùa mà còn đặt ra trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ di sản giữa bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Hôm nay, chùa Tích Sơn vẫn lặng lẽ tồn tại giữa lòng phố thị, như một điểm tựa tinh thần, nơi lưu giữ ký ức văn hóa và hồn cốt của vùng đất Vĩnh Yên.

Theo: Báo Phú Thọ