Tây Thái Bình Dương vắng bóng tàu sân bay Mỹ sau nhiều năm

Hải quân Mỹ rút tàu sân bay USS George Washington khỏi Thái Bình Dương để tăng viện cho Trung Đông, để lại một vùng biển không còn chiến hạm chủ lực nào của Washington.

Con tàu rời đi ngay sau khi các thủy thủ trên USS Abraham Lincoln, chiến hạm mà nó thay thế, được ghi nhận kiệt sức và gặp vấn đề sức khỏe tinh thần sau hơn 240 ngày liên tục lênh đênh trên biển. Nếu Hải quân Mỹ kịp điều động một tàu khác trong vài tháng tới, khoảng trống tại Tây Thái Bình Dương có thể chỉ là tạm thời.

Con tàu sân bay khổng lồ rẽ sóng rời Thái Bình Dương, hướng về Trung Đông, nơi nó sẽ thay chỗ cho tàu USS Abraham Lincoln. Phía sau nó, vùng biển Tây Thái Bình Dương lần đầu tiên sau nhiều năm không còn một tàu sân bay Mỹ nào hiện diện.

Trên tàu Abraham Lincoln, những thủy thủ đã ở lại biển hơn 240 ngày, một quãng thời gian dài chưa từng có với một đợt triển khai của Hải quân Mỹ. Nhiều người trong số họ được ghi nhận gặp vấn đề sức khỏe tinh thần, sống trong điều kiện thiếu thốn giữa những chiến dịch không có thời hạn rõ ràng gần Iran.

Trước đó ít tháng, tàu USS Gerald R. Ford cũng đã trở về Mỹ vào giữa tháng 5, sau 11 tháng lênh đênh, đợt điều động dài nhất của một tàu sân bay Mỹ kể từ thập niên 70 của thế kỷ XX. Con tàu từng tham gia chiến dịch tấn công Iran và chiến dịch bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, rồi bốc cháy tại khu giặt là, phải quay về Địa Trung Hải sửa chữa, để lại hàng trăm thủy thủ không còn chỗ ngủ.

Ông Robert Farley, giảng viên an ninh quốc gia và ngoại giao tại Đại học Kentucky, nói con người và chiến hạm đều có giới hạn chịu đựng. “Con người không được nghỉ ngơi đầy đủ sẽ bị kiệt quệ về tâm lý. Nghỉ ngơi và phục hồi là một phần của việc duy trì sức khỏe thủy thủ đoàn”, ông nói.

Các nghị sĩ Dân chủ tại Quốc hội Mỹ đã lên tiếng, yêu cầu điều tra và giám sát chặt hơn điều kiện sống trên tàu Abraham Lincoln. Còn tại những vùng biển mà con tàu để lại phía sau, một khoảng trống bắt đầu hiện ra.

Ông Greg Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), nhận thấy khoảng cách giữa lời nói và việc làm của Washington. Chính quyền Tổng thống Donald Trump vẫn nói Thái Bình Dương là ưu tiên quan trọng nhất sau Tây Bán cầu, nhưng theo ông, thực tế lại “làm điều hoàn toàn ngược lại”.

Ông cho biết các đồng minh của Mỹ trong khu vực đang bất an trước sự khó đoán của Washington, còn Bắc Kinh thì hài lòng nhìn sự phân tâm và thất vọng ấy lan rộng. Ông Bryan Clark, cựu sĩ quan tàu ngầm Hải quân Mỹ, hiện là chuyên gia phân tích quốc phòng tại Viện Hudson, cho rằng khó có khả năng xảy ra một cuộc tấn công chỉ vì tàu sân bay Mỹ rời đi, nhưng khoảng trống ấy vẫn có thể là cơ hội để đối thủ phô diễn sức mạnh.

“Trung Quốc đang sử dụng điều này như một phần của câu chuyện nhằm chứng minh với Philippines, Nhật Bản và các nước khác rằng Mỹ không còn là cường quốc số một ở Tây Thái Bình Dương. Họ muốn các nước trong khu vực nghĩ rằng Trung Quốc mới là cường quốc ở đây và Mỹ không còn khả năng đảm bảo an ninh cho họ”, ông Clark nói với AP.

Ông Evan Sankey, chuyên gia phân tích chính sách tại Viện Cato, nói rằng sự hiện diện của một tàu sân bay vốn mang lại cảm giác được bảo đảm cho các đồng minh. Nay khi nó vắng mặt, theo ông, điều đó “làm gia tăng cảm giác chung rằng Mỹ đang bị phân tâm bởi những diễn biến ở Trung Đông”.

Giữa những lo ngại ấy, ngày 13/8, Đô đốc Frank Bradley, Tư lệnh Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt Mỹ, có mặt tại Manila. Ông nói với Philippines rằng lực lượng đặc nhiệm Mỹ sẵn sàng tăng cường các cuộc tập trận chung, trước khi tiếp tục hành trình dự kiến tới Nhật Bản.

Ông Clark cho rằng gốc rễ của áp lực hiện nay nằm ở việc Washington đã bước vào cuộc chiến với Iran mà không chuẩn bị và lên kế hoạch đầy đủ. Hải quân Mỹ hiện có 11 tàu sân bay, thường triển khai 2-3 tàu cùng lúc, và con số ấy có thể tăng lên 4 nếu tàu USS Theodore Roosevelt rời San Diego để tới Trung Đông, khi đó tàu USS George Washington mới có thể quay trở lại Thái Bình Dương.

Nhưng những chiến hạm khổng lồ ấy rồi cũng phải vào xưởng bảo dưỡng, trong khi nước Mỹ chỉ có hai xưởng đóng và sửa chữa tàu sân bay. “Sẽ xảy ra tình trạng ‘nợ bảo dưỡng’ phải giải quyết trong vài năm tới. Có lẽ chúng ta sẽ thấy sự hiện diện của tàu sân bay giảm đi, bởi các tàu sẽ phải xếp hàng để vào xưởng”, ông Clark nói.

Vinh Vũ (tổng hợp)