Tân Sơn Nhất đối mặt nguy cơ UAV, diều giữa khu dân cư

Tân Sơn Nhất nhiều lần phải tạm dừng cất, hạ cánh do UAV, diều xâm nhập, trong bối cảnh sân bay nằm giữa khu dân cư đông đúc và việc phát hiện thiết bị bay nhỏ còn gặp khó khăn.

Sân bay Tân Sơn Nhất đang đối mặt nguy cơ từ UAV và diều xuất hiện trong khu vực ảnh hưởng đến hoạt động bay, đặc biệt tại các vị trí có mật độ dân cư, xây dựng cao. Trong hai ngày 11 và 13/8, sự cố liên quan đến UAV và diều khiến sân bay hai lần tạm dừng hoạt động cất, hạ cánh, ảnh hưởng gần 130 chuyến bay và hàng chục nghìn hành khách.

Tân Sơn Nhất được người Pháp khởi xây năm 1930 trên vùng đất làng Tân Sơn Nhứt, Gia Định cũ và sau gần một thế kỷ hoạt động đã trở thành sân bay lớn nhất cả nước, với công suất 50 triệu hành khách mỗi năm. Trung bình mỗi ngày, sân bay có 700-800 chuyến bay đi và đến, trong khi dịp cao điểm lễ, Tết có thể vượt 1.000 chuyến.

Cùng với quá trình phát triển, đô thị hóa quanh sân bay diễn ra nhanh chóng, khiến Tân Sơn Nhất từ khu vực ngoại ô trở thành sân bay nằm giữa khu dân cư đông đúc, nhà cửa san sát và nhiều cao ốc. Ba nhà ga T1, T2, T3 kết nối với các trục Trường Sơn, Phổ Quang, Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, những khu vực có mật độ xây dựng cao.

Thượng tá Tạ Đình Chiến trao đổi về nguy cơ UAV ảnh hưởng hoạt động bay tại Tân Sơn Nhất. (Ảnh minh họa: TNM)

Theo thượng tá Tạ Đình Chiến, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 367, đơn vị quản lý, bảo vệ vùng trời phía Nam, nhà cao tầng và mật độ xây dựng dày đặc hạn chế khả năng quan sát UAV. Các hệ thống quang học có thể mất dấu thiết bị khi UAV di chuyển phía sau tòa nhà, đặc biệt ở độ cao khoảng 100-200 m.

Nhiều UAV có kích thước nhỏ, khung bằng nhựa, trọng lượng chỉ vài trăm gram nên tín hiệu phản xạ radar rất yếu, khó phân biệt với chim hoặc các vật thể khác. Tại Tân Sơn Nhất và khu vực lân cận, vùng cấm và hạn chế bay được thiết lập theo hình chữ nhật dài 40 km, rộng 16 km, lấy khu vực giữa đường băng làm tâm; khi khởi động một số loại flycam, drone trong phạm vi này, hệ thống sẽ cảnh báo người sử dụng.

Tuy nhiên, theo thượng tá Tạ Đình Chiến, một số trường hợp có thể can thiệp vào phần mềm để thiết bị hoạt động trái phép. Một số UAV còn được lập trình sẵn tọa độ GPS, tự động bay đến vị trí xác định rồi quay về trong thời gian ngắn, khiến việc truy tìm nguồn điều khiển phức tạp hơn.

“Vì vậy, để phát hiện thiết bị vi phạm vùng cấm bay, đơn vị phải quan sát trực quan và từ các đài vọng”, thượng tá Chiến nói.

Ông Hồ Minh Tấn, Phó cục trưởng Hàng không, cũng lo ngại khi hệ thống kiểm soát không lưu tại sân bay hiện chưa có thiết bị tự động chuyên dụng để nhận diện UAV. Việc phát hiện vật thể xâm nhập chủ yếu dựa vào quan sát bằng mắt thường hoặc ống nhòm, trong khi ở giai đoạn cất và hạ cánh, máy bay hoạt động ở độ cao thấp và phi công có rất ít thời gian để phát hiện, xử lý nguy cơ từ vật thể lạ.

Bên cạnh UAV, hoạt động bay tại Tân Sơn Nhất còn đối mặt nguy cơ từ việc thả diều. Theo hướng khai thác, máy bay cất cánh qua khu vực Đông Bắc, gần các phường Tây Thạnh và Đông Hưng Thuận; khi hạ cánh, tàu bay tiếp cận từ phía Tây Nam, qua khu vực Gò Vấp và An Nhơn.

Người dân thả diều tại khu đất trống gần đường cất cánh của sân bay Tân Sơn Nhất. (Ảnh minh họa: TNM)

Các vùng lân cận có nhiều bãi đất trống tại khu công nghiệp Tân Bình, dọc kênh Tham Lương và khu Bình Hưng Hòa, nơi thường có người thả diều, trong đó có những loại kích thước lớn. Thượng tá Tạ Đình Chiến dẫn chứng tối 13/8, một nhóm người thả diều khung thép rộng gần 4 m2, kéo bằng dây thừng nối với bộ tời trên ôtô; diều bay ở độ cao tới 400 m, cách đường băng máy bay cất cánh khoảng 3 km.

Trước đó, đầu năm 2024, tổ lái từng phát hiện flycam hoạt động trái phép trong vùng cấm, uy hiếp an toàn bay. Tân Sơn Nhất cũng nhiều lần cảnh báo tình trạng thả diều tại khu vực hạn chế hoạt động bay.

Để tăng khả năng phát hiện và xử lý thiết bị lạ xâm nhập, Sư đoàn 367 đã bổ sung hai radar tầm thấp cùng hệ thống quang ảnh nhiệt kiểm soát vùng trời sân bay. Đơn vị cũng phối hợp các lực lượng lập tổ chế áp UAV ở vòng trong và vòng ngoài khu vực cất, hạ cánh, đồng thời tăng cường các đài quan sát nhằm phát hiện sớm nguy cơ.

Theo PGS.TS Nguyễn Thiện Tống, nguyên chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không, Đại học Bách khoa TP HCM, thành phố có thể tham khảo kinh nghiệm quốc tế để xây dựng hệ thống chuyên dụng phát hiện UAV. Hệ thống có thể kết hợp radar, cảm biến tần số vô tuyến, hồng ngoại, quang học và công nghệ AI để phát hiện sớm các thiết bị bay nhỏ.

Ông Tống cho biết nhiều sân bay tại Anh, Đức, Singapore từng đối mặt tình trạng UAV xâm nhập và đã đầu tư nâng cấp hệ thống cảnh báo. Việc thiết lập vùng đệm quanh sân bay cũng giúp tăng khoảng cách, tạo thêm thời gian phát hiện và xử lý vật thể bay từ xa.

Về phía cơ quan quản lý, Cục Hàng không kiến nghị đầu tư hệ thống chuyên dụng để phát hiện, cảnh báo sớm và chế áp UAV khi cần thiết, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào quan sát trực tiếp và thông báo thủ công. Cơ quan này đồng thời đề xuất hoàn thiện chế tài hành chính, hình sự đủ sức răn đe đối với tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tàu bay không người lái.

Thiên An (tổng hợp)