Việt Nam đang giữ vị trí nổi bật trong nguồn cung thủy sản cho Trung Quốc, với tôm hùm đứng đầu và cá tra chiếm ưu thế trong nhóm hàng cùng loại.
- Chợ tự phát trước cổng nhà máy khiến Quốc lộ 47 thêm ùn ứ
- Đội nắng 35 độ, xếp hàng cả tiếng để chụp ảnh cẩm tú cầu hồ Gươm
- Giới khoa học lật lại bí ẩn thảm họa lũ quét tại Nepal
Theo cơ quan hải quan Trung Quốc, năm 2025 nước này nhập khẩu 20,26 tỷ USD thủy sản, còn 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2,31 triệu tấn, trị giá 10,1 tỷ USD. Việt Nam hiện là nguồn cung thủy sản lớn thứ ba vào Trung Quốc, sau Nga và Ecuador.
Trong nhóm thủy sản nhập khẩu, tôm hùm là mặt hàng ghi nhận mức tăng đáng chú ý tại thị trường này. Năm 2025, giá trị nhập khẩu tôm hùm của Trung Quốc tăng khoảng 47%, trong đó Việt Nam chiếm khoảng 36% và trở thành nguồn cung lớn nhất.
VASEP cho biết Trung Quốc đã chi 845 triệu USD mua tôm hùm Việt Nam trong năm 2025, tăng mạnh so với mức 363,5 triệu USD của năm 2024. Đà tăng tiếp tục được ghi nhận trong 5 tháng đầu năm 2026, khi xuất khẩu tôm hùm của Việt Nam sang Trung Quốc đạt hơn 506 triệu USD, tăng 44,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở nhóm cá tra, Việt Nam cũng giữ vị trí chủ lực trong nguồn cung cho Trung Quốc. Năm 2025, xuất khẩu cá tra sang thị trường này mang về 691 triệu USD, trong khi 7 tháng năm 2026 đạt 357 triệu USD.
Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký VASEP, cá tra có lợi thế về giá và phù hợp với nhu cầu ăn uống phổ thông nên đã được đưa vào hệ thống nhà hàng, dịch vụ cung cấp đồ ăn và thị trường tiêu dùng đại chúng tại Trung Quốc. Khối lượng cá tra Trung Quốc nhập khẩu từng tăng liên tục trong giai đoạn 2016-2022 trước khi điều chỉnh sau mức đỉnh, nhưng quy mô thị trường vẫn ở mức cao.
Trong 7 tháng năm 2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch gần 1,65 tỷ USD, tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước và chiếm khoảng 24,1% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Bà Lê Hằng cho rằng thị trường Trung Quốc còn dư địa tăng trưởng trong trung và dài hạn khi người dân ngày càng quan tâm đến chế độ ăn giàu protein, ít chất béo. Trong khi đó, mức tiêu thụ thủy sản tại hộ gia đình hiện khoảng 21 gram/người/ngày, thấp hơn đáng kể so với mức khuyến nghị khoảng 50 gram.
Năng lực nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc cũng được cho là đã gần đạt giới hạn, khiến nhập khẩu tiếp tục giữ vai trò bổ sung nguồn cung cho thị trường nội địa. Tuy nhiên, nhu cầu của người mua không chỉ dừng ở giá mà còn mở rộng sang độ tươi, nguồn gốc, khả năng truy xuất, chất lượng ổn định, tính bền vững và chứng nhận.
Sự thay đổi này tạo ra những yêu cầu khác nhau giữa các nhóm khách hàng và khu vực. Thủy sản sống, tươi có lợi thế tại miền Nam Trung Quốc; hàng đông lạnh và tiện lợi phù hợp hơn với miền Bắc và khu vực nội địa, trong khi sản phẩm chế biến sẵn có tiềm năng ở nhóm người trẻ và các chuỗi nhà hàng.
Theo Phó Tổng Thư ký VASEP, doanh nghiệp Việt Nam vì vậy cần chú trọng lựa chọn sản phẩm theo từng khu vực và kênh tiêu thụ thay vì chỉ tăng lượng bán ra. Cá tra tiếp tục có lợi thế ở phân khúc đại chúng nhờ giá cạnh tranh, còn tôm hùm và một số sản phẩm sống có cơ hội tại phân khúc cao cấp.
Những con số xuất khẩu cho thấy thủy sản Việt Nam đang có vị trí đáng kể tại thị trường Trung Quốc, nhưng dư địa này đi cùng yêu cầu cao hơn về chất lượng, nguồn gốc và cách đưa sản phẩm đến đúng nhóm người mua. Việc đáp ứng được những yêu cầu đó sẽ quyết định khả năng tận dụng thị trường còn nhiều nhu cầu này trong thời gian tới.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
