Hơn 40.000 bé gái mất cơ hội chào đời mỗi năm tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi khiến hàng chục nghìn bé gái mỗi năm mất cơ hội chào đời, đặt ra yêu cầu thay đổi nhận thức về giá trị bình đẳng của con trai và con gái.

Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc. Nhiều người bày tỏ sự xót xa, đồng thời cho rằng định kiến trọng nam khinh nữ cần được giải quyết từ gia đình đến cộng đồng.

Theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc công bố năm 2024, Việt Nam và Trung Quốc thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ giới tính khi sinh cao nhất thế giới, vượt mức 110 bé trai trên 100 bé gái. Cục Thống kê cũng công bố tỷ lệ giới tính khi sinh tại Việt Nam năm 2024 là 111,4 bé trai trên 100 bé gái.

Những bé gái không có cơ hội chào đời

Nhiều bạn đọc cho biết họ đau lòng trước thực trạng hàng chục nghìn bé gái không được sinh ra mỗi năm. Bạn đọc Anh viết: “Bé gái hay bé trai đều xứng đáng được chào đời và có cơ hội phát triển như nhau”.

Từ trải nghiệm gia đình, bạn đọc Ngọc Nữ chia sẻ: “Mình sinh 2 con gái và vợ chồng mình rất yêu 2 con”. Bạn đọc Trần Đăng Hiến cũng đặt câu hỏi về quan niệm chuộng con trai: “Thời buổi này mà còn ham con trai? Con gái cũng tài giỏi và rất yêu thương cha mẹ!”.

Những ý kiến khác cho thấy mong muốn có con gái vẫn hiện diện trong nhiều gia đình. Bạn đọc LÊ cho biết: “Mình muốn sinh con gái nhưng nhận được 3 đứa con trai”. Bạn đọc Thu chia sẻ: “Nhà mình cũng có bé trai rồi nên lại thích con gái”.

Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng nhìn nhận con trai và con gái bình đẳng. Bạn đọc Nguyên bày tỏ lo ngại con gái có thể gặp bất lợi nếu bước vào gia đình vẫn coi trọng con trai. Bạn đọc Khoa cũng cho rằng trẻ em gái có thể chịu thiệt thòi nếu thiếu cơ chế bảo vệ và khuyến khích phù hợp.

Theo ước tính được dẫn trong bài viết, Việt Nam có hơn 40.000 bé gái mất cơ hội chào đời mỗi năm. Tình trạng này có thể liên quan đến việc phá thai sau khi biết giới tính thai nhi hoặc lựa chọn phôi nam trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm.

Nghiên cứu của Chao và cộng sự năm 2019 cũng xếp Trung Quốc và Việt Nam vào nhóm có tỷ lệ giới tính khi sinh cao. Trong giai đoạn 1970-2017, số bé gái được ước tính không có cơ hội chào đời tại Trung Quốc là 11,9 triệu, tương đương khoảng 240.000 bé mỗi năm; tại Ấn Độ là 10,6 triệu, tương đương khoảng 210.000 bé mỗi năm.

Một bé gái chào đời trong thời khắc giao thừa tại Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM).
(Ảnh minh họa: TNM)

Thay đổi nhận thức để giảm mất cân bằng giới tính

Nhiều bạn đọc cho rằng định kiến trọng nam khinh nữ là nguyên nhân sâu xa khiến một bộ phận gia đình muốn lựa chọn giới tính thai nhi. Quan niệm phải có con trai nối dõi hoặc phụng dưỡng cha mẹ vẫn tạo sức ép, đặc biệt với những người phụ nữ sinh con gái.

Một bạn đọc là giáo viên, đồng thời là cháu đích tôn trong gia đình, kể: “Vợ chồng mình có hai con gái và quyết định không sinh thêm. Dù từng bị ông bà nội hối thúc sinh con trai, tôi đã thuyết phục được gia đình và không còn chịu áp lực khi người em trai đã có con trai”.

Câu chuyện này cho thấy áp lực sinh con trai có thể xuất hiện ngay trong gia đình. Theo bạn đọc Việt Anh, nếu cha mẹ tiếp tục ưu ái con trai, định kiến ấy có thể được truyền sang thế hệ sau. Bạn đọc Sao Mai cũng cho rằng việc ngăn bác sĩ tiết lộ giới tính thai nhi chỉ giải quyết một phần vấn đề nếu nhận thức của cha mẹ không thay đổi.

Bên cạnh giáo dục bình đẳng giới, nhiều ý kiến đề nghị tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động y tế và xử lý nghiêm hành vi tiếp tay cho việc lựa chọn giới tính thai nhi. Bạn đọc Anh Thư Nguyễn đề xuất đẩy mạnh tuyên truyền, trong khi Lại Đức Trung và Trần Chung Huy mong muốn có chế tài đủ sức răn đe.

Từ góc độ chuyên môn, ông Hồ Mạnh Tường, Tổng thư ký Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM, cho rằng cần kiểm soát quy trình sàng lọc nhiễm sắc thể phôi và việc thông báo kết quả cho bác sĩ, các cặp vợ chồng cùng nhân viên phòng nuôi cấy phôi. Ông cũng nhấn mạnh yêu cầu giám sát và xử phạt nhằm ngăn việc lạm dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để lựa chọn giới tính.

Một số bạn đọc đồng thời đề cập đến khó khăn kinh tế và nỗi lo về cuộc sống khi về già. Theo họ, chính sách an sinh xã hội thiết thực có thể giúp các gia đình chỉ có con gái yên tâm hơn, giảm áp lực phải sinh con trai để dựa vào lúc tuổi cao.

Tuy nhiên, mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ là vấn đề của kỹ thuật y tế hay việc thực thi pháp luật. Đây còn là vấn đề văn hóa, lịch sử, cần thời gian và nhiều biện pháp phối hợp để giải quyết từ gốc.

Việc bảo đảm bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái vì thế cần bắt đầu từ cách ứng xử trong gia đình, đi cùng giáo dục cộng đồng, giám sát hoạt động y tế và chính sách an sinh phù hợp. Mỗi đứa trẻ cần được đón nhận và có cơ hội phát triển mà không bị quyết định bởi giới tính.

Hoàng Lan (tổng hợp)