Việt Nam – Nguồn cung thịt bò nội địa chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, khiến nhập khẩu trâu, bò sống và thịt cùng các sản phẩm từ thịt tiếp tục tăng, trong khi ngành chăn nuôi trong nước đối mặt nhiều hạn chế về đất đai, vốn và hiệu quả kinh tế.
- Đau lưng buổi sáng cần lưu ý những dấu hiệu bất thường
- Bạo lực học đường: Cần song hành xử lý và giáo dục
- Một hộ dân bị cưỡng chế kê biên tài sản vì nợ tiền ngân hàng
Theo Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng đàn bò thịt của Việt Nam năm 2025 còn khoảng 5,62 triệu con, giảm khoảng 370.000 con so với năm 2020. Trái lại, mức tiêu thụ thịt bò bình quân đầu người được dự báo tăng từ 7,5kg năm 2024 lên 9,6kg vào năm 2029, tạo thêm áp lực lên khả năng cung ứng trong nước.
Ông Hồ Mộng Hải, Phó Trưởng Phòng Giống vật nuôi, Cục Chăn nuôi và Thú y, cho biết lượng thịt bò tiêu thụ bình quân đầu người năm 2024 đã gấp đôi mức 3kg của năm 2019. Trong khi nhu cầu tiếp tục tăng, sản xuất trong nước hiện mới đáp ứng khoảng 60% thị trường, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa năng lực chăn nuôi và sức mua.
Dù tổng đàn thu hẹp, sản lượng thịt bò hơi vẫn tăng trong những năm gần đây. Từ khoảng 441.500 tấn năm 2020, sản lượng tăng lên 512.600 tấn năm 2025, tương ứng mức tăng bình quân 3% mỗi năm; riêng năm 2025 tăng 4,43% so với năm trước.

Sản lượng tăng phản ánh những cải thiện nhất định về năng suất và hiệu quả khai thác đàn bò, nhưng chưa đủ để bù đắp khoảng thiếu hụt nguồn cung. Vì vậy, nhập khẩu trở thành một kênh quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 293.588 con trâu, bò sống, tăng hơn 54,4% so với năm trước; trong đó, Thái Lan cung cấp khoảng 75% tổng lượng nhập khẩu. Bên cạnh vật nuôi sống, số liệu của Cục Hải quan cho thấy trong 8 tháng đầu năm, cả nước nhập 658.000 tấn thịt và các sản phẩm từ thịt, trị giá hơn 1,9 tỷ USD, tăng 5,6% về lượng và 26,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường cung cấp thịt và các sản phẩm từ thịt lớn nhất cho Việt Nam, chiếm gần 20,4% tổng lượng nhập khẩu. Trong 8 tháng đầu năm, lượng hàng từ thị trường này đạt 134.200 tấn, trị giá 580,8 triệu USD, tăng 17% về lượng và 43,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Thịt trâu đông lạnh chiếm phần lớn cơ cấu hàng nhập từ Ấn Độ và được bán phổ biến trên thị trường với giá 80.000-160.000 đồng/kg, tùy loại. Một nhân viên kho thực phẩm trên đường Tỉnh lộ 43, phường Tam Bình, TPHCM, chia sẻ với Dân trí: “Thịt nhập khẩu hầu hết là thịt trâu, chỉ một số ít là thịt bò nhưng bán không chạy bằng”.
Ở chiều ngược lại, ngành chăn nuôi bò thịt trong nước chịu sức ép từ nhiều yếu tố, trước hết là diện tích đất dành cho chăn thả ngày càng thu hẹp. Theo Cục Chăn nuôi và Thú y, đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và việc dành đất cho doanh nghiệp, tập đoàn cùng các hoạt động bất động sản đã khiến điều kiện duy trì đàn trâu, bò tại nhiều địa phương khó khăn hơn.
Nguồn lao động phục vụ chăn nuôi cũng bị ảnh hưởng khi người dân nông thôn có xu hướng chuyển sang những công việc đem lại thu nhập cao hơn. Đối với các hộ nuôi nhỏ lẻ, việc duy trì đàn vật nuôi vì thế ngày càng khó, nhất là khi giá bò hơi biến động và hiệu quả kinh tế chưa ổn định.
Chị Hồng Ngự, thương lái thu mua và giết mổ trâu, bò tại Củ Chi, TPHCM, cho biết giá bò hơi tại các tỉnh phía Nam dao động khoảng 80.000-100.000 đồng/kg, trong khi trâu hơi có giá 220.000-250.000 đồng/kg. Mỗi con trâu, bò khi đưa vào giết mổ thường nặng khoảng 300-400kg, còn thời gian nuôi từ bê hoặc nghé đến khi trưởng thành có thể kéo dài gần 3 năm, làm tăng chi phí và kéo dài thời gian thu hồi vốn.

Bên cạnh đó, quy mô chăn nuôi trâu, bò tại Việt Nam phần lớn vẫn nhỏ, nhiều hộ chỉ nuôi vài con nên lợi nhuận thu được không đáng kể. Vốn đầu tư lớn, chu kỳ sản xuất dài và đầu ra thiếu ổn định khiến một số hộ phải cân nhắc giảm đàn hoặc ngừng nuôi.
Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi TP Đồng Nai, nhận định việc mở rộng đàn trâu, bò trong điều kiện hiện nay rất khó khăn. Thiếu đồng cỏ để tổ chức chăn thả quy mô lớn, nguồn lực tài chính hạn chế và liên kết vùng lỏng lẻo là những trở ngại đối với việc gia tăng quy mô sản xuất.
Theo ông Công, tại các nước như Canada, Tây Ban Nha và Nga, ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển mạnh; những phần thịt được thị trường nội địa ưa chuộng như thăn nội, thăn ngoại, phile được giữ lại tiêu thụ với giá cao, trong khi phần còn lại được xuất khẩu sang Việt Nam “với giá nào cũng được”. Ông cho biết: “Chính điều này khiến thịt nhập khẩu tại Việt Nam có giá rất tốt, điều mà chăn nuôi trong nước không thể cạnh tranh lại được”.
Thực tế trên cho thấy việc tăng sản lượng trong nước không chỉ phụ thuộc vào số lượng vật nuôi mà còn liên quan đến chi phí sản xuất, khả năng tổ chức chăn nuôi quy mô lớn và kết nối thị trường. Nếu các hạn chế về đất đai, vốn, thức ăn và đầu ra chưa được tháo gỡ, người chăn nuôi sẽ tiếp tục gặp khó khi cạnh tranh với nguồn hàng nhập khẩu.
Theo định hướng đến năm 2030, tổng đàn bò thịt của Việt Nam được đặt mục tiêu đạt 6,5-6,6 triệu con, trong đó khoảng 30% được nuôi tại các trang trại. Để tiến tới mục tiêu này, các chuyên gia cho rằng cần giải quyết đồng bộ những điểm nghẽn về đất đai, nguồn vốn, tổ chức sản xuất và liên kết thị trường, qua đó nâng cao khả năng cung ứng của ngành chăn nuôi trong nước.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
