Lưu Nhân Chú: “Tùng bách” giữa rừng gươm giáo và bi kịch của bậc khai quốc công thần

Trong dòng chảy lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam thế kỷ XV, bên cạnh hình bóng lẫy lừng của Bình Định Vương Lê Lợi và quân sư Nguyễn Trãi, lịch sử không thể không nhắc đến những vị hổ tướng đã “nằm gai nếm mật”, xông pha giữa lằn ranh sinh tử để giành lại độc lập cho non sông. Một trong những gương mặt xuất chúng nhất, người được ví như cây tùng cây bách vững chãi trước bão táp, chính là Tể tướng Lưu Nhân Chú. Ông là niềm tự hào của vùng đất Thái Nguyên, một vị tướng tài ba văn võ song toàn, nhưng cuộc đời lại kết thúc bằng một bi kịch đau đớn ngay giữa thời bình.

Từ lái buôn nghèo đến hổ tướng Lũng Nhai: Những chiến công “trúc chẻ tro bay”

Lưu Nhân Chú, hiệu là Ông Sỹ, sinh ra tại xã An Thuận Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Theo sách Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, cơ duyên đến với nghiệp lớn của ông bắt đầu từ một giấc mộng điềm lành khi ngủ trọ tại đền thờ thần, báo hiệu một tương lai phi thường.

Khi giặc Minh xâm lược và đô hộ nước ta vào năm 1407, Thái Nguyên là một trong những nơi bị đàn áp nặng nề nhất, nhưng cũng là vùng đất sục sôi ý chí phản kháng. Năm 1409, Lưu Nhân Chú đã rời quê hương tìm vào Thanh Hóa để gia nhập nghĩa quân của Lê Lợi. Sự tin cẩn và tài năng của ông sớm được khẳng định khi vào ngày 1 tháng 2 năm Bính Thân (1416), Lưu Nhân Chú là một trong 18 người thân tín cùng Lê Lợi tham gia Hội thề Lũng Nhai lịch sử, thề cùng sống chết để đánh đuổi giặc Minh,,. Sau hội thề ấy, ông trở về Thái Nguyên để gây dựng lực lượng và luyện tập quân sĩ, chuẩn bị cho ngày khởi nghĩa.

Năm 1418, khi Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa, Lưu Nhân Chú là một trong những người có mặt đầu tiên và nhanh chóng trở thành tướng trụ cột. Ông giữ chức Thứ thủ ở vệ kỵ binh trong quân Thiết Đột, luôn xông pha nơi hòn tên mũi đạn trong những ngày tháng gian khổ nhất của nghĩa quân,. Sử sách ghi nhận, suốt 10 năm kháng chiến (1418-1427), ông có mặt ở hầu hết các mặt trận và tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng.

Tài năng quân sự của Lưu Nhân Chú được bộc lộ rõ nét qua hàng loạt chiến công vang dội. Tháng 4/1419, ông tham gia chỉ huy đánh đồn Nga Lạc (Thanh Hóa), bắt sống ngụy quan Nguyễn Sao và chém hơn 300 đầu giặc. Đặc biệt, năm 1424, trong trận Khả Lưu – một trận đánh then chốt để phá thế bao vây và mở đường tiến vào Nghệ An – Lưu Nhân Chú đã xông pha giữa trận tiền, dũng mãnh hãm trận và thu được toàn thắng, khiến tên tuổi ông nổi tiếng khắp ba quân,. Sự dũng cảm của ông trong trận này được ví như “trúc chẻ tro bay”.

Tiếp đà thắng lợi, năm 1425, ông cùng các dũng tướng như Lê Lễ, Lê Sát, Lê Triện chỉ huy quân đánh úp thành Tây Đô, chém 500 giặc. Với chiến công này, ông được phong tước Thông hầu. Đến mùa thu năm 1426, khi cục diện chiến trường thay đổi, Lưu Nhân Chú cùng Lê Sát và các tướng lĩnh khác đem 2.000 quân tinh nhuệ tiến ra Bắc, bình định các vùng đất Thiên Quang (Ninh Bình), Thiên Trường (Nam Định), Kiến Xương (Thái Bình),. Nhiệm vụ của ông là chặn đường rút lui và cắt đứt viện binh của địch từ các lộ Lạng Giang, Bắc Giang.

Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của Lưu Nhân Chú là chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang năm 1427. Khi danh tướng nhà Minh là Liễu Thăng hùng hổ dẫn 10 vạn quân sang tiếp viện, Lưu Nhân Chú được giao trọng trách cùng Lê Sát mang 1 vạn quân và 5 voi chiến lên ải Chi Lăng mai phục. Với mưu lược tài tình, ông đã phối hợp cùng Trần Lựu (người giả thua để nhử địch) đưa Liễu Thăng vào bẫy. Tại đây, Lưu Nhân Chú và Lê Sát đã lập công đầu khi chém chết Liễu Thăng ngay tại trận, sau đó chém tiếp tướng Lương Minh.

Chưa dừng lại ở đó, ông tiếp tục cùng các tướng lĩnh hợp vây tại Xương Giang, tiêu diệt hoàn toàn cánh quân chủ lực của địch, bắt sống tướng Hoàng Phúc và Thôi Tụ, khiến Mộc Thạnh nghe tin phải khiếp sợ rút chạy. Chiến thắng này đã đập tan ý chí xâm lược của nhà Minh, buộc Vương Thông phải giảng hòa tại Hội thề Đông Quan, nơi Lưu Nhân Chú cũng vinh dự có mặt cùng Lê Tư Tề vào thành làm con tin để bảo đảm hòa bình.

Vị Tể tướng “lương ngọc” và cái chết oan khuất giữa thời bình

Tượng thờ danh tướng Lưu Nhân Chú. (Ảnh: Chụp màn hình/Dân Việt)

Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, vương triều Lê được thành lập năm 1428. Ghi nhận công lao to lớn của ông, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã ban cho Lưu Nhân Chú quốc tính (được mang họ Vua), phong tặng tám chữ vàng: “Suy trung, Tán trị, Hiệp mưu, Dương vũ”. Ông được thăng tới chức Tể tướng, đứng đầu hàng võ trong triều và kiêm coi việc quân quốc trọng sự. Vào tháng 5/1429, khi khắc biển công thần, ông được phong tước Á Thượng hầu, đứng hàng thứ 5. Đến năm 1431, ông tiếp tục được phong chức Nhập nội tư khấu, đứng đầu Bộ Hình, nắm giữ quyền sinh sát và thực thi pháp luật.

Không chỉ là một võ tướng tài ba, Lưu Nhân Chú còn được vua Lê Thái Tổ đánh giá rất cao về đức độ và phẩm chất. Trong bài chiếu ban cho ông, nhà vua đã dành những lời lẽ trân trọng nhất để ca ngợi người cộng sự trung thành: “Xét (Lê Nhân Chú) đấy: Tài năng như tùng bách, chất người như lương ngọc”. Vua thấu hiểu những gian lao mà ông đã trải qua, từ những ngày “Núi Linh Sơn đói khổ mấy tuần”, “xứ Ai Lao muôn phần vất vả”, cho đến khi “ăn cháo rau cơm hẩm” để “quét thanh trời đất khỏi tai ương ngựa sắt gươm vàng”. Nhà vua khẳng định ông là “bề tôi trung lương của nước”, ví ông như chân tay giỏi giúp đầu được yên, như rường cột chắc giúp nhà vững chãi.

Thế nhưng, bi kịch của Lưu Nhân Chú lại đến từ chính những người từng cùng ông vào sinh ra tử. Năm 1433, vua Lê Thái Tổ băng hà, vua Lê Thái Tông lên ngôi khi còn quá nhỏ. Quyền hành trong triều rơi vào tay Đại tư đồ Lê Sát làm phụ chính. Lê Sát, vốn là người cùng Lưu Nhân Chú lập công đầu chém Liễu Thăng tại ải Chi Lăng năm xưa, nhưng nay lại sinh lòng đố kỵ. Theo sử liệu, Lê Sát đã ngầm hạ độc giết chết Lưu Nhân Chú. Không những thế, Lê Sát còn tiếp tục bức hại gia đình ông, đuổi em trai ông là Trịnh Khắc Phục (người anh em cùng mẹ khác cha) từ chức Hành khiển Nam đạo xuống làm phán đại lý chính.

Sự ra đi oan khuất của Lưu Nhân Chú là một tổn thất lớn cho triều đình nhà Lê và để lại nỗi xót xa cho hậu thế. Phải đến năm 1437, khi vua Lê Thái Tông trưởng thành và tự mình cầm quyền, nỗi oan của ông mới được giải. Nhà vua đã trị tội Lê Sát, bãi chức Sát và phục hồi danh dự cho Lưu Nhân Chú,. Đến năm Hồng Đức thứ 15 (1484), vua Lê Thánh Tông đã truy tặng ông tước Thái phó Vinh quốc công, một sự ghi nhận xứng đáng cho những cống hiến trọn đời của ông.

Dù cuộc đời kết thúc trong bi kịch của những toan tính quyền lực, nhưng tấm lòng trung nghĩa và tài năng của Lưu Nhân Chú vẫn sáng mãi như lời vua Lê Thái Tổ từng ví von là “ngọc phan, ngọc dư”. Ngày nay, tên tuổi của ông được khắc ghi sâu đậm trong tâm thức người dân Việt Nam. Tại quê hương Đại Từ, Thái Nguyên, đền thờ ông được lập uy nghiêm tại quần thể di tích Núi Văn – Núi Võ, nơi được xếp hạng Di tích Quốc gia. Tên của ông cũng được đặt cho nhiều con đường trang trọng tại các thành phố lớn như Thái Nguyên, Hà Nội, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, và cả những ngôi trường mang tên Lưu Nhân Chú để giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước,,. Cuộc đời ông, từ cậu bé ôm chí lớn cứu nước giúp đời đến vị Tể tướng lừng danh, mãi là bản hùng ca bi tráng về một thời kỳ “nếm mật nằm gai” oanh liệt của dân tộc.