Phú Thọ – Ông Trịnh Đình Năng, một người thợ cơ khí tự học, đã dành nhiều năm nghiên cứu và chế tạo các thiết bị, sản phẩm khoa học có giá trị thực tiễn cao.
- Thái Nguyên còn thiếu nhân lực giáo dục trước năm học mới
- Hai mặt hàng Việt giữ vị trí nổi bật
- Tháp nước sống sót giữa đống đổ nát cửa khẩu Trung – Nepal
Ông Trịnh Đình Năng, 73 tuổi, ở phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ, từng phải nghỉ học sau lớp 7 để phụ giúp gia đình nhưng sau đó tiếp tục học nghề, học văn hóa và tự nghiên cứu. Từ cuối những năm 1990 đến nay, ông lần lượt thực hiện nhiều công trình, trong đó có lò xử lý rác thải y tế, hệ thống sản xuất C60-C70 Fullerene và nghiên cứu chiết xuất curcumin.
Tuổi thơ của ông Năng gắn với cuộc sống mưu sinh cùng mẹ trong hoàn cảnh khó khăn. Sau khi nghỉ học, ông học nghề mộc và dành khoảng một năm vừa học nghề vừa dựng căn nhà cho mẹ, trước khi xuống Hải Phòng học việc tại Xưởng Đóng tàu Hải Phòng.
Chỉ khoảng ba tháng sau, ông trở về vì gia đình không đủ điều kiện, rồi vừa học vừa làm tại Khu Gang thép Thái Nguyên. Tại đây, ông học lý thuyết, thực hành cơ khí vào ban ngày và tiếp tục học bổ túc văn hóa vào buổi tối, hoàn thành chương trình cấp 3 hệ 10 năm trong khoảng 18 tháng.
“Tôi không có một con đường học hành dài lâu, nhưng được bù đắp bằng cách học đến đâu, làm đến đó; điều gì chưa biết thì tìm đọc, tìm hiểu và tự thực hành”, ông Năng nói.
Sau khi rời Gang thép Thái Nguyên về quê, ông tiếp tục làm nghề mộc, cơ khí và dần trở thành người thợ có tay nghề cao. Việc thường xuyên tháo lắp, chế tạo máy móc giúp ông tích lũy kiến thức theo một cách riêng, lấy thực tế làm nơi kiểm chứng những điều tự học được.
Khi cơ chế thị trường mở ra, ông nhận thấy người dân miền núi gặp khó khăn về nguồn nước nên bắt đầu nghiên cứu các hệ thống máy bơm có thể đưa nước lên cao hàng trăm mét. Những sản phẩm này vừa giải quyết nhu cầu thực tế, vừa tạo nguồn kinh phí để ông xây dựng một phòng thí nghiệm nhỏ.
Bước chuyển sang nghiên cứu chuyên sâu rõ hơn khi một người bạn làm giám đốc bệnh viện đặt ông chế tạo lò xử lý rác thải y tế. Từ năm 1999 đến 2005, ông liên tục thử nghiệm, sửa chữa và cải tiến thiết bị, đồng thời dành tiền từ hoạt động kinh doanh để mua vật liệu và tự chế tạo những thiết bị chưa có sẵn.
Năm 2005, ông hoàn thiện lò đốt rác thải y tế đầu tiên. “Lò đốt rác y tế của tôi được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng sáng chế. Điều đặc biệt là lò đốt rác thải y tế của tôi được áp dụng giải pháp kiểm soát quá trình làm nguội khí thải nhanh, nhằm hạn chế sự hình thành dioxin và furan”, ông Năng cho hay.
Sau công trình này, hướng nghiên cứu của ông mở rộng sang hợp chất thiên nhiên, dược liệu, lượng tử carbon, chất bán dẫn và một số vấn đề thuộc vật lý lượng tử. Có công trình ông dành tới 15 năm theo đuổi, thực hiện khoảng 4.000 lần thí nghiệm.
Một trong những nghiên cứu ông tâm đắc là hỗn hợp C60-C70 Fullerene. Cuối năm 1996, sau khi biết đến Fullerene qua một chương trình truyền hình về lễ trao giải Nobel, ông bắt đầu xem đây là hướng nghiên cứu mới.
“Tôi thấy nó có giá trị rất lớn với loài người và nó đã trở thành đích đến cho nghiên cứu tiếp theo của tôi. Đến nay, sản phẩm này đã cung cấp cho một số khách hàng với giá hơn 1 triệu USD/kg”, ông kể.
Sau nhiều năm nghiên cứu, hệ thống sản xuất hỗn hợp C60-C70 Fullerene của ông được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế năm 2018. Với ông, mục tiêu không chỉ dừng ở việc có thêm một bằng sáng chế mà còn hướng tới khả năng tạo ra những sản phẩm giá trị cao từ vật liệu carbon trong nước.
Kim Yến (tổng hợp)
