Truy xuất nguồn gốc mở rộng tới gần 3.000 hộ dân, hợp tác xã

Hà Nội, hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ghi nhận dữ liệu từ 200 doanh nghiệp cùng 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24 tỉnh, thành phố, với 158.234 sản phẩm.

Từ khi Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản chính thức được đưa vào sử dụng ngày 01/7/2026, dữ liệu của 48.754 sản phẩm đã được cập nhật. Việc kết nối hiện được triển khai tại nhiều địa phương, trong đó Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk đã báo cáo các điều kiện cần thiết để thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Thủ tướng Chính phủ, hiện có 9 doanh nghiệp cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc đã kết nối với hệ thống của Bộ. Ngoài ra, 4 doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản cũng kết nối hệ thống do mình phát triển với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Năm địa phương gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Hưng Yên, Quảng Ninh và Đắk Lắk đã báo cáo bảo đảm các điều kiện cần thiết để triển khai truy xuất nguồn gốc. Trong số dữ liệu đã cập nhật, 48.754 sản phẩm thuộc 9 dòng sản phẩm của 19 doanh nghiệp được thực hiện truy xuất nguồn gốc và đưa lên hệ thống của Bộ.

Cùng với kết quả trên, thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ đã gửi hồ sơ đăng ký kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Các hồ sơ này đang được xem xét, phê duyệt để triển khai theo quy định.

Số địa phương có báo cáo về kết quả triển khai cũng tăng thêm 5 tỉnh, thành phố, nâng tổng số lên 24/34 tỉnh, thành phố. Tính lũy kế, hệ thống hiện có dữ liệu của 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm, do 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố cung cấp.

Tại Hà Nội, hệ thống truy xuất nguồn gốc của thành phố hiện có trên 3.000 cơ sở và hơn 12.000 sản phẩm. Khoảng 5% trong số này đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu để kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ở Thái Nguyên, hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản và 5.136 cơ sở, đồng thời quản lý 222 vùng sản xuất và 149 mã số vùng trồng. Có 6 doanh nghiệp, hợp tác xã tại địa phương đáp ứng yêu cầu kết nối với hệ thống của Bộ.

Hưng Yên đã kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API với 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất. Tại Quảng Ninh, dữ liệu của 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất đã được đồng bộ, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống truy xuất nguồn gốc của tỉnh.

Tại Đắk Lắk, việc kết nối mới được triển khai bước đầu với dữ liệu của một hợp tác xã sản xuất sầu riêng. Đây là một trong những địa phương đã báo cáo điều kiện cần thiết để thực hiện truy xuất nguồn gốc.

Những con số trên cho thấy hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản đang được mở rộng cả về số địa phương, đơn vị tham gia và lượng dữ liệu được cập nhật. Việc tiếp tục xem xét hồ sơ kết nối và đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống sẽ là bước tiếp theo trong quá trình hoàn thiện mạng lưới truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản.

Hoàng Lan (tổng hợp)