Viêm quanh răng là bệnh lý mạn tính có thể phá hủy các mô nâng đỡ răng, khiến răng lung lay và dẫn đến mất răng nếu không được phát hiện, điều trị kịp thời.
- Dấu vết từ những giao dịch của đường dây đánh bạc trực tuyến
- 4 dấu hiệu cảnh báo hạch ở cổ có thể là bất thường
- Xăng Việt Nam lập đỉnh sáu tháng giữa lúc dầu thế giới giảm
Bệnh thường liên quan đến sự tích tụ mảng bám vi khuẩn và cao răng, đặc biệt ở những người vệ sinh răng miệng chưa đúng cách. Tình trạng viêm có thể diễn biến âm thầm, gây tổn thương lợi, dây chằng quanh răng và xương ổ răng trước khi xuất hiện các dấu hiệu rõ rệt.
Khi bệnh tiến triển, người mắc có thể bị sưng đỏ lợi, chảy máu khi chải răng hoặc chảy máu tự phát. Cao răng tích tụ cả trên và dưới đường viền lợi, trong khi các túi quanh răng hình thành, có thể xuất hiện dịch hoặc mủ khi thăm khám.
Hơi thở có mùi khó chịu, lợi tụt làm lộ chân răng, răng nhạy cảm hoặc thay đổi vị trí cũng là những biểu hiện cần chú ý. Qua phim X-quang, bác sĩ có thể phát hiện mức độ tiêu xương ổ răng, qua đó đánh giá tổn thương các mô nâng đỡ răng.
Nếu không được điều trị, tổn thương tiếp tục tiến triển sẽ làm suy giảm khả năng giữ răng của các mô quanh răng. Hậu quả có thể là răng lung lay và cuối cùng mất răng.
Để hạn chế nguy cơ mắc bệnh, kiểm soát mảng bám là biện pháp quan trọng. Người dân nên chải răng ít nhất hai lần mỗi ngày, đặc biệt vào buổi tối trước khi ngủ, bằng bàn chải lông mềm và kem đánh răng chứa fluoride.
Việc chải răng cần nhẹ nhàng, đúng kỹ thuật, làm sạch các mặt răng và đường viền lợi; không nên chải quá mạnh vì có thể gây tổn thương lợi, mài mòn vùng cổ răng. Bên cạnh đó, chỉ nha khoa hoặc bàn chải kẽ phù hợp giúp làm sạch những vị trí bàn chải khó tiếp cận.
Nước súc miệng có thể hỗ trợ vệ sinh trong một số trường hợp nhưng không thay thế việc chải răng và làm sạch kẽ răng. Do viêm quanh răng có tính chất mạn tính, người bệnh cần duy trì thói quen chăm sóc răng miệng ngay cả khi triệu chứng đã giảm, đồng thời tái khám theo lịch hẹn để hạn chế nguy cơ tái phát.
Khám nha khoa định kỳ giúp phát hiện sớm viêm lợi, viêm quanh răng, sâu răng và những yếu tố làm tăng nguy cơ bệnh như răng chen chúc, phục hình không phù hợp hoặc khó vệ sinh. Cao răng là mảng bám đã khoáng hóa nên không thể loại bỏ hoàn toàn bằng cách chải răng tại nhà, đồng thời có thể tạo điều kiện cho mảng bám tiếp tục tích tụ và duy trì tình trạng viêm.
Tần suất lấy cao răng không áp dụng chung một lịch cố định 3-6 tháng cho tất cả mọi người mà phụ thuộc vào tình trạng răng miệng và nguy cơ của từng cá nhân. Người đã mắc viêm quanh răng có thể cần được chăm sóc, tái khám thường xuyên hơn theo chỉ định của nha sĩ.
Trong một số trường hợp viêm quanh răng cấp tính hoặc có biến chứng, bác sĩ có thể chỉ định thuốc để kiểm soát viêm nhiễm; sản phẩm chứa chlorhexidine cũng có thể được sử dụng trong thời gian nhất định theo hướng dẫn chuyên môn. Tuy nhiên, kháng sinh tại chỗ hoặc toàn thân không được dùng thường quy cho mọi trường hợp.
Người bệnh không nên tự mua kháng sinh, gel kháng sinh hoặc nước súc miệng chứa hoạt chất điều trị để sử dụng kéo dài. Việc điều trị chủ yếu tập trung vào kiểm soát mảng bám, cao răng và các yếu tố gây bệnh, còn thuốc đóng vai trò hỗ trợ khi có chỉ định phù hợp.
Chế độ ăn đa dạng, đủ protein, vitamin và khoáng chất, cùng việc uống đủ nước, góp phần hỗ trợ sức khỏe răng miệng. Khi lợi đang viêm, đau hoặc chảy máu, người bệnh nên hạn chế thức ăn quá cứng, quá nóng hoặc cay nếu những thực phẩm này làm tăng cảm giác khó chịu; đồng thời giảm đồ ăn, thức uống nhiều đường và không hút thuốc lá.
Người mắc bệnh toàn thân cũng cần đặc biệt lưu ý vì một số tình trạng sức khỏe có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh quanh răng hoặc khiến bệnh diễn biến phức tạp. Đáng chú ý, đái tháo đường kiểm soát kém có mối liên quan hai chiều với bệnh quanh răng, trong khi người nhiễm HIV, mắc bệnh ảnh hưởng đến hệ miễn dịch hoặc một số bệnh về máu có thể đối mặt với nguy cơ gặp vấn đề răng miệng nghiêm trọng hơn.
Vì vậy, người mắc bệnh mạn tính cần kiểm soát tốt bệnh nền và thông báo đầy đủ tình trạng sức khỏe cho nha sĩ. Khi cần thiết, nha sĩ sẽ phối hợp với bác sĩ chuyên khoa để xây dựng kế hoạch điều trị phù hợp.
Phòng ngừa viêm quanh răng cần được thực hiện thường xuyên thông qua kiểm soát mảng bám, vệ sinh răng miệng đúng cách, khám định kỳ và điều trị sớm. Khi lợi thường xuyên chảy máu, sưng đỏ, hơi thở có mùi, răng lung lay hoặc lợi tụt, người bệnh nên đi khám nha khoa thay vì chờ đến khi đau mới điều trị.
Mộc Linh (tổng hợp)
