(Mỹ) Dữ liệu từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cho thấy bốn loài cá săn mồi lớn có hàm lượng thủy ngân vượt xa nhiều loại cá phổ biến, vì vậy phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ nên hạn chế hoặc tránh sử dụng.
- Ngôi nhà đá cổ dần bình yên sau nhiều năm đối mặt đàn rắn độc
- Anh tiếp tục cho Mỹ dùng căn cứ quân sự nhằm vào Iran giữa xung đột leo thang
- Thiếu niên 15 tuổi đột quỵ khi đang trong nhà vệ sinh
Cá là nguồn cung cấp protein, axit béo omega-3 cùng nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể, nhưng không phải loài nào cũng có mức độ an toàn như nhau. Theo cơ sở dữ liệu về thủy ngân trong cá thương mại của FDA, một số loài cá săn mồi lớn tích lũy methylmercury ở mức cao hơn hàng chục lần so với những loại cá thường xuất hiện trong bữa ăn hằng ngày.
Trong nhóm được thống kê, cá kiếm là loài có hàm lượng thủy ngân trung bình khoảng 0,995ppm trên 636 mẫu khảo sát, trong khi mẫu cao nhất đạt tới 3,22ppm. Với kích thước lớn, chế độ ăn chủ yếu gồm mực và nhiều loài cá nhỏ, cá kiếm liên tục tích lũy thủy ngân từ con mồi nên lượng chất này trong thịt thường cao hơn đáng kể so với cá hồi, cá mòi, cá cơm hay cá rô phi.
Cá mập cũng nằm trong nhóm cần đặc biệt lưu ý khi dữ liệu từ 356 mẫu cho thấy hàm lượng thủy ngân trung bình khoảng 0,979ppm, còn mức cao nhất lên tới 4,54ppm. Là loài đứng gần đỉnh chuỗi thức ăn và có tuổi thọ dài, cá mập hấp thụ methylmercury qua nhiều thế hệ con mồi, khiến lượng chất này ngày càng tích tụ trong cơ thể dù mức độ còn phụ thuộc vào loài, kích thước, độ tuổi và vùng biển sinh sống.

Đối với cá thu vua (king mackerel), hàm lượng thủy ngân trung bình khoảng 0,73ppm, dao động từ 0,23ppm đến 1,67ppm trong 213 mẫu được khảo sát. Mức này cao gấp khoảng 8–15 lần cá thu Đại Tây Dương và cá thu chub Thái Bình Dương, vì vậy người tiêu dùng cần đọc kỹ tên loài trên nhãn sản phẩm thay vì chỉ nhìn tên gọi chung là “cá thu”.
Cá ngừ mắt to (bigeye tuna) có hàm lượng thủy ngân trung bình khoảng 0,689ppm, với mẫu thấp nhất là 0,128ppm và cao nhất đạt 1,816ppm. Con số này cao hơn khoảng 5,5 lần so với cá ngừ đóng hộp loại “light”, đồng thời cũng vượt đáng kể mức trung bình của cá ngừ albacore đóng hộp và cá ngừ vây vàng do loài cá này có kích thước lớn, sống lâu và ở vị trí cao hơn trong chuỗi thức ăn.
Theo hệ thống phân loại dành cho phụ nữ mang thai, người đang cho con bú và trẻ từ một đến 11 tuổi, các loài cá có hàm lượng thủy ngân trung bình vượt 0,46ppm được xếp vào nhóm nên tránh. Cả bốn loài cá nêu trên đều vượt khá xa ngưỡng này, song điều đó không đồng nghĩa người trưởng thành khỏe mạnh sẽ gặp vấn đề ngay sau khi ăn một khẩu phần, bởi nguy cơ chủ yếu đến từ việc sử dụng thường xuyên khiến methylmercury tích lũy theo thời gian và có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh đang phát triển của thai nhi và trẻ nhỏ.

Điều đáng quan tâm hơn là lựa chọn đúng loại cá thay vì loại bỏ hoàn toàn thực phẩm giàu dinh dưỡng này khỏi bữa ăn. Dữ liệu của FDA cho thấy cá hồi tươi hoặc đông lạnh chỉ chứa trung bình khoảng 0,022ppm thủy ngân, cá mòi khoảng 0,01ppm, tôm khoảng 0,01ppm và cá rô phi khoảng 0,013ppm, đều thấp hơn rất nhiều so với cá kiếm hay cá mập.
Khi mua cá thu hoặc cá ngừ nhập khẩu, người tiêu dùng nên kiểm tra chính xác tên loài vì cá thu vua khác hoàn toàn cá thu Đại Tây Dương về hàm lượng thủy ngân, còn cá ngừ mắt to cũng không giống cá ngừ vằn thường dùng để sản xuất cá hộp loại “light”. Phụ nữ mang thai và đang cho con bú được khuyến nghị ăn khoảng hai đến ba khẩu phần cá ít thủy ngân mỗi tuần, tương đương khoảng 227–340g, với mỗi khẩu phần dành cho người lớn khoảng 113g.
Việc nấu chín, chiên hoặc nướng không thể loại bỏ đáng kể methylmercury đã tích lũy trong thịt cá. Lựa chọn đúng loài, đa dạng nguồn hải sản và kiểm soát tần suất sử dụng vẫn là cách hiệu quả nhất để giảm phơi nhiễm thủy ngân mà vẫn duy trì chế độ ăn giàu dinh dưỡng.
Nguyên Hương (tổng hợp)
