Hà Nội – Bộ Y tế đề xuất liên thông hơn 440 danh mục xét nghiệm và dịch vụ điện quang giữa các cơ sở khám, chữa bệnh BHYT, nhằm giảm việc thực hiện lại các kỹ thuật không cần thiết.
- Chè Shan tuyết Đồng Phúc mở hướng phát triển từ vùng di sản
- Ông Trump dọa ném bom đồng minh khi bế tắc với Iran
- Niềm vui chiến thắng chớp mắt thành cuộc hỗn chiến
Dự thảo Thông tư đang được Bộ Y tế lấy ý kiến quy định các nhóm xét nghiệm và dịch vụ cận lâm sàng có thể sử dụng kết quả liên thông giữa các cơ sở khám, chữa bệnh. So với phương án đưa ra lấy ý kiến tháng 11/2025, danh mục lần này giảm còn hơn 1/3, đồng thời loại các kỹ thuật di truyền – sinh học phân tử và giải phẫu bệnh khỏi phạm vi liên thông.
Các nhóm được đề xuất gồm xét nghiệm hóa sinh, vi sinh – ký sinh trùng, huyết học – truyền máu và những dịch vụ điện quang như X-quang, cắt lớp vi tính (CT), cộng hưởng từ (MRI). Với các xét nghiệm, dự thảo quy định thời gian tối đa để sử dụng kết quả liên thông, trong khi nhóm điện quang hiện chưa đặt ra thời hạn cụ thể.
Ở nhóm hóa sinh, kết quả acid uric hoặc cholesterol toàn phần trong máu có thể được sử dụng tối đa 168 giờ. Urê máu, bilirubin toàn phần và bilirubin trực tiếp có thời gian tối đa 24 giờ, còn HbA1c được quy định thời gian tối đa 60 giờ.
Quy định về thời gian sử dụng kết quả từng được nhiều Sở Y tế và bệnh viện góp ý cần làm rõ hơn cách tính, bởi trong thực tế có nhiều mốc thời gian khác nhau từ lúc chỉ định, thực hiện, trả kết quả cho đến khi kết thúc đợt điều trị hoặc người bệnh ra viện.
Sở Y tế Hà Tĩnh đề nghị xác định rõ mốc được dùng để tính thời gian, trong khi Sở Y tế Thái Nguyên lưu ý khả năng phát sinh khác biệt giữa thời gian sử dụng kết quả theo dự thảo và điều kiện thanh toán BHYT đang áp dụng. Đơn vị này lấy HbA1c làm ví dụ, khi dự thảo quy định thời gian tối đa 60 ngày nhưng Thông tư 39/2024 quy định khoảng thời gian 90 ngày trong điều kiện thông thường.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, đơn vị chủ trì xây dựng dự thảo, giải thích rằng thời gian trong dự thảo chỉ nhằm xác định khoảng thời gian kết quả xét nghiệm còn giá trị để bác sĩ tham khảo cùng diễn biến lâm sàng. Quy định này được xác định không liên quan đến thời gian hay điều kiện thanh toán bảo hiểm.
Việc có sử dụng lại kết quả hay yêu cầu thực hiện lại xét nghiệm, dịch vụ cận lâm sàng được giao cho người hành nghề quyết định và chịu trách nhiệm. Quyết định phải căn cứ vào tình trạng lâm sàng, thời điểm thực hiện, phương pháp kỹ thuật và đặc tính của từng dịch vụ.
Nếu cơ sở trước đó thực hiện đúng quy trình kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành, bảo đảm chất lượng, độ chính xác, độ tin cậy và tính kịp thời, bác sĩ tại cơ sở tiếp nhận vẫn phải rà soát kết quả trước khi quyết định có thực hiện lại hay không. Nếu chỉ định lại, bác sĩ phải giải trình lý do.
Đằng sau quy định này là một thực tế vẫn tồn tại trong khám, chữa bệnh: có trường hợp người bệnh phải thực hiện lại các kỹ thuật cận lâm sàng dù đã có kết quả hoặc phim từ cơ sở trước. Một nguyên nhân được các chuyên gia nêu là các cơ sở chưa hoàn toàn tin tưởng chất lượng kết quả của nhau, bên cạnh vấn đề về chuẩn chất lượng của các phòng xét nghiệm.
Từ năm 2010, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình nâng cao năng lực quản lý phòng xét nghiệm y học để chuẩn hóa và kiểm soát chất lượng xét nghiệm. Đến năm 2016, Chính phủ ban hành Đề án tăng cường năng lực hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm y học giai đoạn 2016 – 2025.
Cả nước hiện có khoảng 3.000 cơ sở xét nghiệm, trong đó Bộ Y tế đang triển khai đánh giá chất lượng, chuẩn hóa tại các bệnh viện hạng 1 và bệnh viện trực thuộc Bộ, còn các Sở Y tế thực hiện đánh giá những cơ sở còn lại. Kết quả đánh giá chất lượng được xem là một căn cứ để các cơ sở khám, chữa bệnh tin tưởng và công nhận kết quả xét nghiệm của nhau.
Với điện quang, câu chuyện vẫn còn một khoảng trống khác khi lĩnh vực này chưa có hệ thống quản lý chất lượng tương tự xét nghiệm. Bộ Y tế cho biết sẽ xây dựng đề án phát triển hệ thống quản lý chất lượng điện quang, qua đó tạo thêm cơ sở cho việc công nhận và sử dụng kết quả giữa các cơ sở khám, chữa bệnh.
Nguyên Hương (tổng hợp)
