Những hướng làm ăn mới từ lợi thế quê hương

NGHỆ AN — Người dân tại các xã miền núi Môn Sơn, Huồi Tụ và Vĩnh Tường đang phát triển nhiều mô hình kinh tế phù hợp điều kiện địa phương, từ nuôi ong, cá bọp, dúi, chăn nuôi đến trồng chè shan tuyết, cây dược liệu và du lịch cộng đồng, tạo thêm việc làm và nguồn thu nhập.

Tháng 8/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An tổ chức đoàn công tác gồm các phóng viên, nhà báo đi thực tế, làm việc với các xã miền Tây Nghệ An để ghi nhận những cách làm kinh tế của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại Môn Sơn, Huồi Tụ và Vĩnh Tường, nhiều mô hình đang được người dân triển khai dựa trên đất đai, rừng, khí hậu và những nguồn lực sẵn có.

Xã Môn Sơn có diện tích tự nhiên hơn 529 km², dân số 18.836 người, phần lớn người dân là đồng bào dân tộc thiểu số. Đời sống tại đây chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp, chăn nuôi và kinh doanh nhỏ lẻ; toàn xã còn 638 hộ nghèo, chiếm 15,35%.

Một trong những nội dung được địa phương chú trọng là giúp người dân tiếp cận thông tin, học hỏi kinh nghiệm trong trồng trọt và chăn nuôi. Tỷ lệ người dân được tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ước đạt 85-90%, trong khi thông tin về phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đạt khoảng 80-85%.

Hệ thống truyền thanh cơ sở cùng các cuộc họp tại bản tiếp tục được duy trì để đưa thông tin đến người dân. Trong 6 tháng đầu năm 2026, xã Môn Sơn giải quyết việc làm mới cho 860 lao động, gồm 50 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng và 810 người làm việc tại các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Trên địa bàn xã hiện có nhiều mô hình kinh tế được người dân hưởng ứng, học tập và làm theo. Mô hình nuôi ong nội có 39 hộ tham gia tại 5 bản, gồm Hua Nà 13 hộ, Tân Hợp 4 hộ, Cửa Rào 1 hộ, Làng Yên 11 hộ và Thái Hòa 10 hộ.

Mô hình nuôi cá bọp có 40 hộ tham gia tại 7 thôn, bản, gồm Bản Xiềng 11 hộ, Hua Nà 5 hộ, Yên Hòa 4 hộ, Tân Hợp 6 hộ, Thái Sơn 2 có 1 hộ, Nam Sơn 8 hộ và Tân Hòa 5 hộ. Mô hình trồng na và hồng xiêm có 64 hộ tham gia tại 3 bản là Hua Nà 21 hộ, Mọi 24 hộ và Bắc Sơn 19 hộ.

Nuôi dúi là mô hình có số hộ tham gia nhiều hơn với 68 hộ tại 12 bản. Trong đó, Bản Xiềng có 3 hộ, Bản Cằng 6 hộ, Bản Mét 3 hộ, Trung Thành 1 hộ, Yên Hòa 2 hộ, Khe Ló 4 hộ, Thái Sơn 1 có 4 hộ, Thái Sơn 2 có 11 hộ, Bắc Sơn 11 hộ, Cửa Rào 3 hộ, Thái Hòa 12 hộ và Nam Sơn 8 hộ.

Bên cạnh đó, mô hình chăn nuôi bê địa phương thuộc Dự án 9 đã cấp 112 con giống cho 56 hộ dân tại bản Co Phạt và Khe Búng. Các mô hình này tạo thêm lựa chọn sinh kế cho người dân bên cạnh những hoạt động sản xuất truyền thống.

Môn Sơn cũng đang tìm cách phát huy những giá trị riêng của địa phương để tạo động lực phát triển kinh tế. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái tại bản Xiềng và mô hình du lịch cộng đồng gắn với Vườn quốc gia Pù Mát, sông Giăng, Pha Lài là những hướng được địa phương chú trọng.

Những hoạt động này vừa mở thêm cơ hội việc làm, thu nhập, vừa gắn phát triển kinh tế với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Cùng với đó, xã đang triển khai nhiều chương trình, dự án về phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm nghèo bền vững và hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Tổng nguồn kinh phí được phân bổ cho các chương trình tại Môn Sơn hơn 31,6 tỷ đồng. Đến ngày 30/6/2026, địa phương đã giải ngân hơn 19 tỷ đồng.

Ở xã Huồi Tụ, điều kiện địa hình, rừng và khí hậu tạo nên những hướng phát triển kinh tế gắn với tự nhiên. Người dân nơi đây chủ yếu phát triển chăn nuôi bò, gà đen, cây sa nhân tím, chè shan tuyết và cây bo bo; trong khi Quốc lộ 16 cùng tuyến đường liên xã đến các xã phía bắc huyện Kỳ Sơn cũ tạo thuận lợi cho thương mại, dịch vụ.

Chè shan tuyết là một trong những cây trồng đáng chú ý của Huồi Tụ. Diện tích chè đang cho thu hoạch đạt 288,1 ha, sản lượng chè búp tươi mỗi năm khoảng 330-350 tấn, được chế biến thành khoảng 66-70 tấn chè vàng, 3 tấn lục trà, 3 tấn hồng trà, 1,5 tấn hoàng trà và 650 tấn bạch trà.

Giá thu mua chè búp thường, loại 2 lá 1 tôm, khoảng 10.000 đồng/kg; các loại cao cấp gồm 1 lá 1 tôm hoặc 1 tôm có giá từ 30.000-50.000 đồng/kg. Đây là nguồn thu nhập ổn định đối với người dân trồng chè tại địa phương.

Dưới tán rừng, Huồi Tụ có khoảng 30 ha cây bo bo, sản lượng ước gần 100 tấn quả tươi, chế biến được 20-25 tấn quả khô. Với giá trung bình 50.000 đồng/kg quả khô, cây dược liệu này cũng mang lại nguồn thu cho người dân.

Một số hộ đã trồng sa nhân tím, trong đó gia đình ông Hờ Pà Chù ở bản Huồi Khe có thu nhập trung bình 65-70 triệu đồng/năm. Đến nay, toàn xã đã hỗ trợ 77 hộ gia đình trồng hơn 100.000 cây sa nhân tím.

Cây lá giang cũng được người dân khoanh nuôi, chăm sóc dưới tán rừng và thu hái bán cho thương lái với giá trung bình 15.000 đồng/kg. Nhiều hộ có thu nhập khoảng 50-60 triệu đồng/năm từ nguồn này, trong khi đặc tính ưa bóng mát của cây lá giang cũng khiến người dân có thêm động lực bảo vệ những cây gỗ xanh tạo bóng râm.

Trong chăn nuôi, bò địa phương và gà đen là hai mô hình được người dân Huồi Tụ phát triển. Đàn bò vàng địa phương trung bình khoảng 3.000 con mỗi năm, trong đó hơn 500 con được xuất bán với giá khoảng 12-15 triệu đồng/con.

Gà đen chuẩn địa phương được nhiều hộ nuôi với quy mô trung bình 100-200 con mỗi mô hình, giá bán khoảng 220.000 đồng/kg. Một số hộ nuôi giống gà đen nhập từ phía Bắc với quy mô lớn hơn, như gia đình ông Nguyễn Hữu Tranh nuôi trung bình 10.000 con/năm và gia đình ông Lỳ Bá Xênh nuôi khoảng 4.000 con/năm, giá xuất bán 150.000 đồng/kg.

Tại xã Vĩnh Tường, một mô hình nuôi dúi đang được nhắc đến từ câu chuyện của gia đình anh Trần Văn Kiên, sinh năm 1978, trú tại xóm Hoa Sơn 3. Sau nhiều năm làm việc trong và ngoài nước, năm 2023 anh trở về quê và dành nhiều tháng tìm hiểu việc trồng cây, nuôi con để làm kế sinh nhai trước khi quyết định xây dựng trang trại nuôi dúi giống.

Ban đầu, anh Kiên nhập con giống từ các tỉnh, thành phía Bắc và những nguồn giống được cho là uy tín, sau đó đầu tư nuôi 20 cặp dúi. Sau 10 tháng, đàn dúi bắt đầu sinh sản; mỗi cặp có thể sinh sản 2-3 lứa/năm, mỗi lứa khoảng 5 con.

Đàn dúi của gia đình anh sau đó phát triển lên hàng trăm cặp. Đây là loài ưa mát, thức ăn chủ yếu gồm thân cây tre, hạt ngô và mía có sẵn tại địa phương, nhưng vào những ngày cao điểm về nhiệt độ, anh phải vận hành hệ thống quạt mát hết công suất và lắp cả máy điều hòa.

Dúi thích hợp với thời tiết mát mẻ vào cuối thu, đầu đông và chủ yếu sinh sản trong thời gian này. Tuổi thọ của dúi khoảng 6 năm, tần suất sinh sản 2-3 lứa/năm và sau một năm có thể bán làm thương phẩm.

Anh Trần Văn Kiên là người đầu tiên nuôi dúi tại huyện Anh Sơn cũ và chủ yếu bán dúi giống với giá 8 triệu đồng/cặp. Từ thời điểm bắt đầu thu hoạch vào tháng 10/2025 đến nay, chưa đầy một năm, anh thu về 500 triệu đồng; sau khi trừ chi phí giống, thức ăn và các khoản khác, số tiền lãi là 400 triệu đồng.

Bà Bùi Thị Phượng, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Tường (Nghệ An), cho biết mô hình nuôi dúi của anh Kiên là mô hình thành công ngay từ lứa nuôi đầu tiên tại địa phương, đem lại niềm tin cho những người bắt đầu học hỏi để khởi nghiệp trên chính quê hương.

Những mô hình tại Môn Sơn, Huồi Tụ và Vĩnh Tường cho thấy người dân miền Tây Nghệ An đang tìm cách biến những lợi thế sẵn có thành sinh kế. Từ cây chè trên rẻo núi cao, sản vật dưới tán rừng đến vật nuôi và du lịch cộng đồng, mỗi hướng đi đang gắn với điều kiện cụ thể của từng vùng.

An Nhiên (tổng hợp)