Rừng luồng ở Trung Hạ tạo nguồn thu đều đặn cho người dân

Thanh Hóa – Cây luồng đang mang lại nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân xã Trung Hạ, vừa tạo sinh kế từ rừng, vừa cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất và góp phần bảo vệ môi trường.

Gia đình ông Phạm Bá Thỉnh, 52 tuổi, ở thôn Trung Xuân, có 2ha luồng và tổ chức khai thác theo từng khoảnh để duy trì nguồn thu. Trong khi đó, bà Phạm Thị Kiểm, 52 tuổi, ở thôn Lang, sở hữu 3ha luồng, mỗi tháng có thêm 3-5 triệu đồng từ việc bán cây.

Với diện tích luồng của gia đình, ông Thỉnh thường lên rừng khai thác một đến hai lần mỗi tháng, mỗi lần thu được hơn 2 tấn. Sau khi vận chuyển ra đường lớn, luồng được thương lái đến thu mua, giúp gia đình không phải lo lắng về đầu ra. “Cây luồng quý như vàng. Bình quân mỗi tháng, vợ chồng tôi lên rừng khai thác 1-2 lần, mỗi lần chặt hơn 2 tấn. Luồng được vận chuyển xuống đường lớn là có thương lái đến thu mua, không phải lo đầu ra”, ông Thỉnh chia sẻ.

Theo ông Thỉnh, giá luồng hiện ở mức 10.000-13.000 đồng/yến, cao hơn năm trước nên gia đình tranh thủ thu hoạch để cải thiện thu nhập. Trong năm ngoái, 2ha luồng mang lại cho gia đình khoảng 60 triệu đồng, sau khi trừ chi phí đầu tư và công khai thác, số tiền lãi còn khoảng 30 triệu đồng. “Năm ngoái, với 2ha luồng, tôi thu về khoảng 60 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí đầu tư và công khai thác, gia đình còn lãi khoảng 30 triệu đồng. Năm nay, giá luồng tăng nên tôi hy vọng thu nhập sẽ khá hơn”, ông Thỉnh nói.

Những đồi luồng xanh ngút góp phần tạo sinh kế cho người dân vùng cao Thanh Hóa. (Ảnh minh họa: TNM)

Ngoài rừng luồng, gia đình ông còn nuôi gà, vịt và thả cá để đa dạng nguồn thu, giảm phụ thuộc vào một hoạt động sản xuất, qua đó bảo đảm chi phí nuôi hai con ăn học. Cách kết hợp nhiều mô hình kinh tế cũng được người dân địa phương áp dụng nhằm tận dụng đất đai và lao động sẵn có.

Với bà Phạm Thị Kiểm, nguồn thu từ luồng không quá lớn nhưng có tính đều đặn, hỗ trợ chi tiêu hằng tháng. Bà cho biết loại cây này thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu miền núi, không đòi hỏi nhiều công chăm sóc và bắt đầu có thể khai thác sau khoảng 5 năm trồng. Nhà có luồng mỗi tháng tôi chặt một lần, thu về 3-5 triệu đồng. Số tiền trên không quá lớn nhưng tháng nào cũng có để trang trải sinh hoạt, lúc cần chi tiêu cũng đỡ chật vật”, bà Kiểm chia sẻ.

Trong quá trình chăm sóc rừng, người dân chủ yếu phát dọn thực bì, bảo vệ diện tích trồng và lựa chọn những cây đủ tuổi để khai thác. Nếu được chăm sóc, sử dụng hợp lý, rừng luồng có chu kỳ khai thác kéo dài đến 25 năm; việc chia diện tích thành từng khoảnh và thu hoạch luân phiên giúp các hộ duy trì nguồn thu mà không phải chặt toàn bộ rừng trong một lần.

Giá trị của cây luồng còn nằm ở khả năng cung cấp nguyên liệu cho nhiều lĩnh vực sản xuất. Thân cây sau khai thác có thể được sử dụng để làm hàng thủ công, đồ gia dụng, vật liệu xây dựng và các sản phẩm từ tre, luồng. Ông Trần Văn Bồi, Phó Chủ tịch UBND xã Trung Hạ, cho biết địa phương hiện có hơn 3.300ha luồng, đây là một trong những loại cây trồng chủ lực gắn với đời sống người dân. Theo ông, cây phù hợp với điều kiện địa phương, tạo nguồn thu từ khai thác và bán nguyên liệu, qua đó hỗ trợ các hộ ổn định cuộc sống.

Luồng sau khai thác được sơ chế, cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất. (Ảnh minh họa: TNM)

“Người dân ví cây luồng như “vàng xanh” bởi đây là sinh kế quan trọng của nhiều hộ gia đình. Cây phù hợp với điều kiện địa phương, mang lại nguồn thu từ việc khai thác, bán nguyên liệu, góp phần giúp người dân ổn định cuộc sống”, ông Bồi nói. Theo ước tính của lãnh đạo xã, năng suất luồng đạt khoảng 30 tấn/ha/năm. Với giá bán 1.000-1.300 đồng/kg, doanh thu tính theo năng suất và giá bán có thể vượt 30 triệu đồng/ha/năm, chưa trừ các khoản khai thác, vận chuyển và chăm sóc.

Bên cạnh phát triển vùng luồng, người dân Trung Hạ còn duy trì chăn nuôi gia súc, gia cầm và các mô hình kinh tế hộ gia đình. Việc kết hợp nhiều nguồn sinh kế vừa giúp tận dụng nguồn lực tại chỗ, vừa tạo thêm thu nhập trong năm. “Rừng luồng không chỉ mang lại thu nhập mà còn góp phần phủ xanh đất đai, hạn chế đất trống, đồi trọc. Với người dân miền núi, phát triển kinh tế từ luồng cũng là cách gắn sinh kế với bảo vệ rừng”, ông Bồi chia sẻ.

Nguyễn Liên (tổng hợp)