TPHCM – Bộ Tài chính đề xuất áp thuế 0,2% đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng, trong khi chuyên gia cho rằng mức này chưa đủ sức ngăn hành vi găm giữ đất.
- Ngôi nhà mới giúp bà Liên vững lòng sau mùa nước lớn
- Ba bị can và những khoản nợ giữ chân hai nữ nhân viên
- Truy nã đặc biệt nguy hiểm, Trần Thành Long bị bắt sau hơn một năm
Ngày 08/10/2026, đề xuất của Bộ Tài chính được đặt trong bối cảnh nhiều khu đô thị tại TPHCM vẫn còn những dãy nhà, biệt thự xây xong nhưng ít người ở, đất trống phủ cỏ và được sử dụng cho các mục đích khác. Theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền, mức thuế cao gấp 7 lần đất ở trong hạn mức vẫn quá thấp nếu mục tiêu là buộc đất được đưa vào khai thác.
Tại Khu đô thị Đông Tăng Long, phường Long Phước, TPHCM, nhiều căn biệt thự và nhà phố được xây dựng nhưng chưa có người ở, trong khi xung quanh xuất hiện các biển rao “Mua bán, cho thuê nhà đất”, “Nhà ngộp cần bán gấp”, “Bán nhà giá rẻ”. Cỏ dại phủ kín một số lối đi, còn đất trống được người dân tận dụng để chăn bò khiến đơn vị quản lý phải dựng biển “cấm chăn, thả gia súc”.
Khu đô thị này được khởi công từ năm 2005, do Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị (HUD) làm chủ đầu tư, nằm bên đường Nguyễn Duy Trinh và cách trung tâm TPHCM khoảng 20km, với quy mô gần 160ha. Một môi giới thứ cấp tại đây cho biết giao dịch khá trầm lắng, người mua phần lớn là nhà đầu tư với mục đích sang nhượng nên số cư dân thực tế đến sinh sống rất thấp.
Tình trạng tương tự được ghi nhận tại Khu đô thị Cát Lái, phường Cát Lái, nơi được quy hoạch từ năm 2010 với vốn đầu tư 6.000 tỷ đồng. Sau hơn 15 năm, nhiều hạng mục vẫn chưa hoàn thiện, hàng chục khu đất còn bỏ trống, cư dân thưa vắng, trong khi một số biệt thự không có người ở và nhiều dãy nhà đóng cửa, treo biển bán hoặc cho thuê.
Tuy nhiên, một tổng giám đốc doanh nghiệp bất động sản tại TPHCM cho rằng không phải trường hợp nào dự án chậm triển khai cũng xuất phát từ việc doanh nghiệp cố tình bỏ hoang đất. Theo vị này, nhiều dự án đang vướng pháp lý trong thời gian dài, doanh nghiệp đã tìm cách làm việc với các cơ quan chức năng nhưng vẫn chưa thể tiếp tục triển khai.
Vị tổng giám đốc dẫn trường hợp khu đất có giá trị tính thuế 1.000 tỷ đồng, nếu áp thuế suất 0,2% thì số tiền phải nộp khoảng 2 tỷ đồng mỗi năm. Khi thủ tục pháp lý kéo dài nhiều năm, khoản chi phí này sẽ tăng lên và có thể được tính vào giá bán, qua đó làm giá nhà mà người mua phải trả cao hơn.
Ở góc độ khác, chuyên gia kinh tế Huỳnh Thanh Điền, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng việc dùng đất để tích trữ, đầu cơ đã lặp lại trong nhiều năm. Ông nhìn lại giai đoạn từ khủng hoảng kinh tế năm 2007 và cho rằng khi có tiền, một bộ phận người dân thường tìm đến vàng và bất động sản để tích trữ, đầu cơ thay vì đưa vốn vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
“Hành vi này đẩy giá đất lên cao bất hợp lý, kéo theo lạm phát. Khi lạm phát tăng, Nhà nước buộc phải siết chính sách tiền tệ, tăng lãi suất để thu tiền về, khiến thị trường đóng băng. Chu kỳ này cứ tái diễn liên tục. Dòng tiền thay vì đi vào sản xuất kinh doanh lại bị găm giữ vào đất đai để chờ tăng giá rất có hại cho nền kinh tế và xã hội”, ông Điền nói.
Theo ông Điền, công cụ thuế và chính sách tài chính cần được sử dụng để giảm sức hấp dẫn của việc đầu cơ đất. Người có vốn nên hướng đến sản xuất, kinh doanh, mua cổ phần, cổ phiếu hoặc góp vốn thay vì mua gom đất rồi để trống.
“Người dân chỉ cần sở hữu 1 căn nhà đất là đủ để ở, còn hành vi găm giữ hàng loạt mảnh đất để trống, không đưa vào khai thác thì bắt buộc phải bị áp thuế rất nặng, thậm chí là thuế chồng thuế, phí chồng phí”, ông Điền nói.
Chuyên gia này đánh giá đề xuất thuế 0,2% đã nhắm đến đúng vấn đề nhưng mức thuế chưa đủ tạo sức ép đối với hành vi găm giữ đất. Ông cho rằng có thể cân nhắc mức thuế 20-30%, thậm chí trên 50% đối với đất bị găm giữ, bỏ hoang.
“Khi bị đánh thuế cao, những người tích trữ đất sẽ buộc phải bán ra. Dòng tiền găm trong đất sẽ được giải phóng để quay lại phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế. Các doanh nghiệp bất động sản chuyên kinh doanh kiểu “xí chỗ”, phân lô bán nền rồi để hạ tầng bỏ hoang từ năm này qua năm khác chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, nhưng nền kinh tế phải chấp nhận điều đó để loại bỏ những thực thể gây hại, nhường không gian phát triển cho các nhà đầu tư tạo ra giá trị thực”, ông Điền nói.
Một vấn đề khác được đặt ra là tiêu chí xác định đất “chậm đưa vào sử dụng” và đất “bỏ hoang”. Với dự án đầu tư, cơ quan quản lý có thể dựa vào tiến độ thực hiện dự án, nhưng đối với đất của cá nhân, việc xác định thời điểm bắt đầu tính là chậm sử dụng hoặc bỏ hoang vẫn cần được làm rõ.

Theo ông Huỳnh Thanh Điền, muốn chính sách thuế được thực hiện hiệu quả và công bằng, trước hết cần hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và phân loại cụ thể từng nhóm đất. Ông cho rằng đây là điều kiện cần để việc áp thuế có cơ sở và tránh áp dụng thiếu thống nhất.
“Đây là giải pháp căn cơ, mang tính lâu dài. Đã đến lúc chúng ta phải quyết liệt thực hiện để lành mạnh hóa thị trường và khơi thông nguồn lực cho nền kinh tế”, ông Điền nhìn nhận.
Luật Đất đai 2024 và các luật thuế hiện hành chưa đưa ra định nghĩa về đất bỏ hoang. Trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất xác định đất bỏ hoang là đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê nhưng không đưa vào sử dụng liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, song dự thảo hiện chưa quy định cụ thể mốc thời gian này.
Mộc Linh (tổng hợp)
