Điều chỉnh quy hoạch nhà máy rác đặt ra yêu cầu giữ cân bằng môi trường

Hải Phòng điều chỉnh quy hoạch Nhà máy xử lý rác thải Seraphin Hải Dương, tăng đất kho xưởng và giao thông nhưng giảm hơn 15.000 m² đất cây xanh.

Lead: Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án tại xã Lai Khê được UBND xã phê duyệt điều chỉnh lần thứ 3, với tổng diện tích nghiên cứu 20,89 ha. Thay đổi này nhằm hoàn thiện không gian sản xuất và hạ tầng kỹ thuật, song việc thu hẹp diện tích cây xanh đặt ra yêu cầu kiểm soát chặt hơn các tác động môi trường trong quá trình nhà máy hoạt động.

Theo phương án mới, 18,85 ha trong tổng diện tích nghiên cứu được dành cho xây dựng nhà máy, phần còn lại thuộc đất hành lang đê sông Rạng. Cơ cấu sử dụng đất trong khu vực nhà máy có sự thay đổi đáng kể khi diện tích kho xưởng sản xuất tăng từ 30.145 m² lên 40.364 m².

Đất dành cho giao thông cũng tăng từ 29.750,2 m² lên 51.766,2 m², tương ứng tăng hơn 22.000 m². Ngược lại, đất cây xanh giảm từ 54.844 m² xuống còn 39.664 m², tức giảm hơn 15.000 m² so với phương án trước.

Việc mở rộng khu kho xưởng có thể giúp nhà máy tổ chức lại các công đoạn tiếp nhận, phân loại và xử lý chất thải, qua đó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vận hành. Nếu được kết hợp với công nghệ phù hợp, diện tích sản xuất tăng có thể hỗ trợ thu hồi các thành phần có giá trị từ rác và giảm lượng chất thải phải chôn lấp.

Diện tích giao thông nội bộ tăng cũng có ý nghĩa đối với hoạt động của một cơ sở xử lý chất thải, bởi lượng phương tiện ra vào lớn đòi hỏi các tuyến lưu thông được bố trí hợp lý. Việc này có thể góp phần hạn chế xung đột giữa các phương tiện, rút ngắn thời gian lưu chứa và nâng cao hiệu quả tiếp nhận rác.

Tuy nhiên, diện tích cây xanh bị thu hẹp là vấn đề cần được lưu ý trong quá trình triển khai. Với một nhà máy xử lý chất thải, cây xanh có vai trò tạo vùng đệm, hỗ trợ giảm bụi, tiếng ồn, mùi và cải thiện điều kiện vi khí hậu, nên việc giảm diện tích này cần đi kèm các giải pháp kỹ thuật và khoảng cách an toàn phù hợp.

Một nội dung khác trong phương án điều chỉnh là hệ thống xử lý nước thải công suất 2.300 m³/ngày đêm. Nước thải phát sinh được thu gom về trạm xử lý trước khi tái sử dụng trong nhà máy, còn nước sau xử lý phải đáp ứng QCVN 40:2025/BTNMT và không thoát ra môi trường bên ngoài.

Cách tổ chức này phù hợp với nguyên tắc tiết kiệm và tuần hoàn tài nguyên khi nước đã xử lý được đưa trở lại phục vụ hoạt động của nhà máy. Nếu hệ thống vận hành đúng thiết kế, phương án có thể hạn chế nguy cơ tác động đến nguồn nước bên ngoài, đồng thời giảm nhu cầu sử dụng nước mới và chi phí vận hành trong dài hạn.

Dù vậy, hiệu quả bảo vệ môi trường không chỉ được quyết định bởi công suất thiết kế của hệ thống xử lý. Chất lượng công nghệ, năng lực vận hành, chế độ quan trắc và khả năng kiểm soát các nguồn phát sinh ô nhiễm mới là những yếu tố quyết định mức độ an toàn thực tế của dự án.

Đối với nhà máy xử lý rác, các vấn đề cần kiểm soát không chỉ gồm nước thải mà còn có mùi, bụi, khí thải, chất thải thứ cấp và nước rỉ. Vì vậy, việc điều chỉnh quy hoạch cần được đặt trong yêu cầu kiểm soát đồng bộ các tác động môi trường thay vì chỉ tập trung vào việc tăng diện tích sản xuất và giao thông.

Trước đây, hoạt động của Nhà máy xử lý rác thải Seraphin Hải Dương từng được người dân địa phương phản ánh về công tác bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh đó, những thay đổi về quy hoạch càng cần được gắn với yêu cầu vận hành thực chất các công trình xử lý và kiểm soát ô nhiễm.

Về lâu dài, hiệu quả của dự án không chỉ nằm ở diện tích xây dựng hay công suất xử lý rác. Một nhà máy xử lý chất thải cần hướng tới giảm lượng rác phải chôn lấp, tăng khả năng thu hồi tài nguyên, tiết kiệm nước và hạn chế các chi phí môi trường đối với cộng đồng xung quanh.

Việc tăng diện tích kho xưởng, giao thông và bố trí hệ thống xử lý nước thải khép kín có thể tạo điều kiện hoàn thiện hoạt động của nhà máy. Tuy nhiên, cùng với đó, việc giảm hơn 15.000 m² đất cây xanh đòi hỏi dự án phải có các giải pháp kiểm soát môi trường tương xứng, để hiệu quả kinh tế không tách rời yêu cầu bảo vệ môi trường sống của người dân địa phương.

Nguyễn Liên (tổng hơp)