TPHCM, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thu Xanh và Phạm Khánh Phong Lan chỉ ra những bất cập trong quản lý an toàn thực phẩm qua vụ kẹo Kera và gần 600 loại sữa bột giả, đồng thời đề xuất siết hậu kiểm và làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan.
- Hải Phòng khởi tố tài xế xe tải có hành vi chống người thi hành công vụ
- Mua ma túy vừa sử dụng vừa bán, ba thanh niên lĩnh án tù
- Không còn bắt buộc họp phụ huynh 3 lần mỗi năm
Chiều 24.10.2026, tại phiên thảo luận tổ về dự án luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), hai đại biểu dẫn các vụ việc đã xảy ra để phân tích những hạn chế trong cơ chế tự công bố, kiểm tra sau công bố và giám sát quảng cáo. Trong đó, gần 600 loại sữa bột giả được tiêu thụ công khai suốt 4 năm, còn vụ kẹo Kera cho thấy những khoảng trống trong kiểm soát quảng cáo thực phẩm qua người nổi tiếng và nền tảng thương mại điện tử.
Đại biểu Phạm Thu Xanh, đoàn Hải Phòng, cho rằng cơ chế tự công bố theo Nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã bị lợi dụng, trong khi hoạt động hậu kiểm chưa theo kịp thực tế. Vụ sữa bột giả do Công ty Rance Pharma và Hacofood Group sản xuất là trường hợp đáng chú ý, bởi sản phẩm được nhắm đến những nhóm dễ bị tổn thương như người mắc bệnh tiểu đường, suy thận, trẻ sinh non và phụ nữ mang thai.
“Đây không chỉ là vi phạm của một doanh nghiệp, mà còn là cảnh báo về khả năng phát hiện, truy xuất và xử lý của hệ thống quản lý”, bà Xanh nói. Theo đại biểu, luật sửa đổi cần quy định cụ thể kế hoạch lấy mẫu định kỳ theo từng nhóm nguy cơ, đồng thời cho phép hậu kiểm đột xuất khi xuất hiện cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm.

Cách kiểm tra cũng cần phân loại theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng đồng đều cho mọi cơ sở. Những đơn vị tuân thủ tốt có thể được giảm tần suất kiểm tra, trong khi sản phẩm có nguy cơ cao, cơ sở tái phạm hoặc đã xuất hiện cảnh báo cần được giám sát chặt chẽ hơn.
Với vụ kẹo Kera, hành vi quảng cáo thổi phồng công dụng thông qua người nổi tiếng đã bị cơ quan chức năng xử lý, qua đó đặt ra vấn đề về trách nhiệm trong hoạt động quảng bá thực phẩm. Bà Xanh đề nghị kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, lưu vết người bán và nội dung quảng cáo, đồng thời kịp thời tạm ẩn hoặc gỡ bỏ nội dung khi có căn cứ, bảo toàn dữ liệu phục vụ xử lý.
Trách nhiệm của người quảng cáo, người có ảnh hưởng và các nền tảng thương mại điện tử cũng cần được quy định rõ, nhất là đối với sản phẩm có khuyến cáo về sức khỏe hoặc dành cho nhóm người dễ bị tổn thương. Những biện pháp này nhằm tăng khả năng phát hiện vi phạm và xác định trách nhiệm của các bên tham gia đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.
Ở góc độ hậu kiểm, đại biểu Phạm Khánh Phong Lan, đoàn TP.HCM, cho rằng vấn đề không chỉ nằm ở thủ tục công bố sản phẩm mà còn ở khả năng kiểm tra thực tế sau khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Bà nhận xét công tác hậu kiểm có lúc mới dừng ở mức “cưỡi ngựa xem hoa”, do lực lượng chưa đủ và thẩm quyền được giao còn hạn chế.
Theo bà Lan, quy định được bài viết dẫn là Nghị định số 15/2028 cho phép các loại thực phẩm thông thường như bánh kẹo, thực phẩm chế biến và rượu bia được tự công bố, sau đó có thể sản xuất, kinh doanh khi nộp hồ sơ cho cơ quan quản lý. Trong khi đó, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm chức năng và thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng phải thực hiện thủ tục đăng ký công bố tại Bộ Y tế hoặc cơ quan được UBND tỉnh, thành phố phân cấp.
Điều đáng lưu ý là một số vụ việc xảy ra với những sản phẩm đã có hồ sơ công bố, nhưng quá trình sản xuất không đáp ứng cam kết ban đầu. Bà Lan nêu tình trạng doanh nghiệp đăng ký công bố sản phẩm bảo vệ sức khỏe rồi thuê cơ sở bên ngoài gia công không bảo đảm chất lượng, dẫn đến nguy cơ thực phẩm giả lưu hành trên thị trường.
“Đây rõ ràng là bài toán của hậu kiểm chứ không phải vấn đề cấp giấy”, bà Lan nói. Từ nhận định này, đại biểu đề nghị tăng cường kiểm tra sau công bố và giảm tiền kiểm khi có thể, đồng thời cho rằng dự thảo luật chưa thể hiện rõ định hướng đó.
Một vấn đề khác được bà Lan đề cập là phương án thay đổi cơ chế công bố sản phẩm trong dự thảo, từ tự công bố sang công bố hợp tiêu chuẩn, cùng quy định thời hạn giấy công bố 36 tháng đối với công bố và 24 tháng đối với tự công bố. Theo bà, nếu yêu cầu toàn bộ sản phẩm phải thực hiện lại thủ tục theo thời hạn mới mà không có lộ trình phù hợp, khối lượng hồ sơ sẽ tạo áp lực lớn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.
Bà dẫn số liệu tại TP.HCM, nơi có hơn 300.000 sản phẩm tự công bố kể từ khi triển khai Nghị định 15/2028. Nếu những sản phẩm này phải làm lại thủ tục công bố hợp tiêu chuẩn sau 24 tháng, khối lượng công việc sẽ vượt quá khả năng xử lý hiện có; vì vậy, bà đề nghị cân nhắc lộ trình hoặc chỉ yêu cầu công bố lại khi thành phần sản phẩm thay đổi.
Hai ý kiến tại phiên thảo luận cùng đặt ra yêu cầu phải xem xét hiệu quả thực chất của cơ chế quản lý, từ kiểm tra hồ sơ, giám sát sản xuất đến hậu kiểm và kiểm soát quảng cáo. Việc sửa luật không chỉ cần xác định thủ tục nào được áp dụng mà còn phải làm rõ cách phát hiện vi phạm, trách nhiệm của từng bên và khả năng xử lý kịp thời khi sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
