Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825) là người ít tuổi nhất trong nhóm “Gia Định tam gia” – ba người xuất chúng của vùng đất phương Nam nhưng đã để lại những dấu ấn sâu đậm không chỉ qua các tác phẩm văn chương, sử học đồ sộ mà còn ở phẩm chất đạo đức thanh cao, liêm khiết hiếm thấy. Suốt cuộc đời làm quan trải qua hai đời vua Gia Long và Minh Mạng, ông luôn giữ cho mình một tâm thế cẩn trọng, trầm tĩnh và một tấm lòng tận trung vì nước vì dân.
- Dương Tự Minh: Vị Phò mã Lang lừng danh và Đức Thánh bất tử trong lòng dân
- Sử Việt dậy sóng: Hậu duệ vua Hàm Nghi trở về, tiết lộ sự thật chưa từng công bố!
- Sự tự tin thực sự đến từ ba điều: dám làm, có khả năng chấp nhận và không quan tâm
Bậc kỳ tài văn võ song toàn và hành trình phò tá vương triều Nguyễn
Trịnh Hoài Đức vốn có tổ tiên là người tỉnh Phúc Châu, Trung Quốc. Do bất phục triều Mãn Thanh, cha ông đã bỏ nước ra đi và chọn Đại Việt làm nơi tá túc, khai khẩn đất Trấn Biên (Biên Hòa). Tuy nhiên, năm Trịnh Hoài Đức mới 10 tuổi, cha ông mất sớm, lại gặp lúc chiến tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn diễn ra ác liệt, mẹ ông đã đưa ông về đất Phiên Trấn (Gia Định) để sinh sống. Tại đây, ông may mắn được theo học cụ Võ Trường Toản, một bậc danh sĩ tài ba được mệnh danh là tổ ngành giáo dục Nam Kỳ. Chính những năm tháng miệt mài đèn sách dưới sự dạy dỗ của người thầy kiệt xuất này đã giúp Trịnh Hoài Đức trau dồi tri thức và bồi đắp tinh thần yêu nước để sau này ra sức giúp dân, giúp nước.
Sự nghiệp của ông bắt đầu thăng hoa từ năm 1788, khi chúa Nguyễn Ánh mở khoa thi tìm hiền tài, Trịnh Hoài Đức cùng các bạn học đều ứng thí và đỗ đạt. Ông bắt đầu với chức Hàn Lâm Chế Cáo, sau đó kinh qua nhiều vị trí quan trọng như Tri huyện Tân Bình, Điền tuấn, và Đông cung Thị giảng cho Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh. Với khả năng xuất chúng, ông liên tục được giao phó những trọng trách quan trọng: từ việc lo hậu cần, tiếp vận quân lương trong các chiến dịch quân sự đến việc giữ chức Thượng thư bộ Hộ và làm Chánh sứ sang nhà Thanh.
Dưới thời vua Minh Mạng, tài năng của Trịnh Hoài Đức càng được trọng dụng hơn bao giờ hết khi ông được triệu về kinh làm Thượng thư bộ Lại, kiêm cả bộ Binh, đồng thời giữ chức Phó Tổng tài Quốc sử giám. Không chỉ là một nhà chính trị và quân sự, ông còn là một nhà văn hóa lớn với những tác phẩm “gối đầu giường” cho các nhà nghiên cứu sau này như “Gia Định thành thông chí” – một bộ bách khoa toàn thư về địa lý nhân văn vùng đất Nam bộ. Dù ở bất kỳ cương vị nào, từ cầm quân đến ngoại giao hay biên soạn sử sách, ông đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thể hiện tầm vóc của một bậc đại trí.
Phẩm chất thanh bạch hiếm có: Quan nhất phẩm bốn bộ không có nhà riêng
Điều khiến hậu thế nể phục Trịnh Hoài Đức nhất không chỉ là quyền cao chức trọng mà chính là lối sống thanh liêm, trong sáng đến mức kinh ngạc. Theo sử sách ghi lại, dù đã thăng đến chức Hiệp biện Đại học sĩ, hàm tòng nhất phẩm và nắm giữ vị trí đứng đầu của 4 bộ quan trọng trong triều đình, Trịnh Hoài Đức vẫn sống một cuộc đời bình dị, không tư lợi,. Một vị quan đại thần kinh qua những chức vụ nắm giữ mạch máu kinh tế và quân sự của quốc gia nhưng lại không có lấy một ngôi nhà riêng tại kinh đô.
Sách “Đại Nam liệt truyện” đã ghi lại một chi tiết đầy cảm động: Vì thấy Trịnh Hoài Đức không có nơi ở, vua đã phải ban cho ông 3.000 quan tiền cùng gỗ, gạch ngói để ông xây dựng một nơi nghỉ ngơi, tắm gội. Phàm là người ở vị trí của ông, việc có được dinh thự nguy nga là điều không khó, nhưng ông vẫn giữ mình thanh sạch cho đến tận lúc đầu bạc. Ông không bao giờ động đến của công và luôn giữ thái độ cẩn thận, nghiêm chỉnh trong mọi việc. Sự liêm khiết của ông đã trở thành một tấm gương sáng về đạo làm quan, minh chứng cho một nhân cách lớn không bị danh lợi làm vẩn đục.
Lòng tận tụy của ông còn thể hiện ở việc dù tuổi cao sức yếu, ông vẫn cố gắng gánh vác việc triều chính theo ý nguyện của nhà vua. Năm 1823, khi dâng biểu xin thôi việc vì bệnh tật và muốn về lại Gia Định, ông đã bị vua Minh Mạng thuyết phục ở lại bằng sự quan tâm chân thành và ban cho sâm quế để tẩm bổ,. Trịnh Hoài Đức chỉ xin nghỉ phép ngắn hạn rồi lại tiếp tục quay lại nhiệm vụ, cống hiến cho đến những hơi thở cuối cùng.
Khi ông qua đời ở tuổi 61, vua Minh Mạng đã không nén được đau thương mà thốt lên rằng: “Trẫm nghe tin không ngờ nước mắt nhỏ xuống”. Nhà vua đã ban lệnh nghỉ triều 3 ngày, cử hành tang lễ trọng thể và dành cho ông những danh hiệu cao quý nhất, thừa nhận ông là một người “trung hiền”, “thuần lương” có nhiều ý kiến đóng góp hay cho chính sự. Ngay cả vị Tổng trấn nổi tiếng nghiêm khắc như Lê Văn Duyệt cũng phải cúi mình kính cẩn trước linh cữu của ông và khen ngợi ông là người đáng kính nhất đời.
Di sản mà Trịnh Hoài Đức để lại không chỉ là những trang sử, những vần thơ hay những vùng đất khai khẩn, mà còn là bài học về lòng liêm chính,. Ngôi mộ của ông tại Biên Hòa, dù đơn sơ nhưng luôn được người dân gọi một cách tôn kính là Lăng Ông, chính là nơi yên nghỉ của một tâm hồn thanh cao, một đời sống vì đại nghĩa.
Phẩm chất của Trịnh Hoài Đức giống như một nhành sen giữa đầm lầy, dù sinh trưởng trong chốn quan trường nhiều danh lợi, ông vẫn giữ được hương sắc tinh khiết, không để bùn nhơ làm vẩn đục lòng mình. Cuộc đời ông chính là minh chứng cho việc đỉnh cao của danh vọng không nằm ở tiền bạc hay nhà cửa, mà nằm ở sự tôn trọng và tiếc thương trong lòng dân tộc.
