Hà Nội và nhiều địa phương đang đưa làng nghề vào các sản phẩm du lịch, từ trải nghiệm làm gốm, dệt thổ cẩm đến tìm hiểu đời sống cộng đồng, mở thêm cơ hội để nghề truyền thống có thêm sức sống.
- Festival Trà Quốc tế Thái Nguyên 2026 hoàn thiện những khâu cuối
- Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn bị bắt: Hé lộ vốn Việt Mỹ tăng 17 lần
- Fedorov cân nhắc tranh cử tổng thống Ukraine
Đến làng gốm Bát Tràng, du khách có thể ngồi trước bàn xoay, tự tay nặn sản phẩm hoặc quan sát người thợ pha đất, tráng men và hoàn thiện một món đồ gốm. Năm 2026, Hà Nội thử nghiệm tour “Dấu ấn gốm cổ làng xanh ven sông Hồng”, kết hợp trải nghiệm làm gốm với bữa cơm cùng nghệ nhân và tìm hiểu lịch sử làng cổ ven sông.
Những trải nghiệm như vậy đang mở ra một cách tiếp cận khác với làng nghề. Du khách không chỉ đến xem sản phẩm, mà có thể chạm vào công việc của người thợ và nghe câu chuyện phía sau một nghề.
Từ một sản phẩm đến cả câu chuyện làng nghề
Tại Hà Nội, một số sản phẩm mới tiếp tục được hoàn thiện, trong đó có mô hình du lịch cộng đồng gắn với văn hóa dân tộc Mường tại Mỹ Đức và các tuyến trải nghiệm di sản, di tích tại Hạ Mỗ. Những mô hình này cho thấy làng nghề đang được đặt trong những hành trình rộng hơn thay vì chỉ được xem như nơi mua sắm.
Tối 08/5, tại Hoàng thành Thăng Long, làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng được công nhận là thành viên Mạng lưới các Thành phố Thủ công Sáng tạo Thế giới. Hà Nội có bốn làng nghề trong mạng lưới này, sau Bát Tràng và Vạn Phúc được công nhận năm 2024.
Ở Nghệ An, nghề dệt thổ cẩm của người Thái được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025, cùng với việc hình thành vùng nguyên liệu và sinh kế cho người dân. Tại Ninh Bình, đá mỹ nghệ Ninh Vân, gốm Bồ Bát và thêu Văn Lâm cũng dần được các đơn vị lữ hành đưa vào các tour.
Những điểm đến ấy có thể được nối thành hành trình dài hơn. Một số đề xuất mở tuyến Đông Bắc theo hướng Hà Nội-Bắc Ninh-Thái Nguyên (Tuyên Quang)-Quảng Ninh, trong đó có trải nghiệm chạm khắc ở Bắc Ninh, chè Tân Cương ở Thái Nguyên và gốm Đông Triều ở Quảng Ninh.
Đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 5.400 làng nghề và làng có nghề. Trong số này có 263 nghề truyền thống và 1.975 làng nghề được công nhận.
Con số ấy cho thấy nguồn tài nguyên cho du lịch là rất lớn. Nhưng một ngôi làng có thêm khách chưa đồng nghĩa nghề truyền thống đã có thêm tương lai.
Bà Hà Thị Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội, cho rằng nhiều nơi vẫn thiếu sản phẩm đủ đặc trưng. Hoạt động trải nghiệm còn nghèo nàn và sự liên kết với doanh nghiệp lữ hành còn hạn chế.
Ở một làng nghề, điều giữ chân du khách có thể không phải món đồ được bày bán. Đó có thể là đôi tay của người thợ, một công đoạn khó, một câu chuyện về nghề hoặc không gian nơi nghề đã tồn tại qua nhiều thế hệ.
Nếu chỉ chọn những công đoạn dễ xem, dễ bán để trình diễn, những kỹ thuật khó và tri thức nghề có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Khi đó, sản phẩm du lịch vẫn có thể đông khách nhưng phần cốt lõi của nghề lại dần mờ đi.

(Ảnh minh họa: TNM)
Người giữ nghề phải là người được hưởng lợi
Du lịch làng nghề cũng đứng trước một bài toán khác. Người thợ giỏi cần có thu nhập đủ để tiếp tục làm nghề, trong khi lớp trẻ phải nhìn thấy lý do để học và gắn bó với công việc của thế hệ trước.
Ông Hà Văn Siêu, Phó Cục trưởng Du lịch quốc gia Việt Nam, từng lưu ý rằng bên cạnh những làng đã trở thành điểm đến hấp dẫn, không ít nghề truyền thống vẫn đứng trước nguy cơ mai một và mất dần tính nguyên bản.
Môi trường cũng nằm trong câu chuyện ấy. Một số làng nghề phát sinh khói bụi, nước thải trong quá trình sản xuất. Khi khách tăng, giao thông và không gian sinh hoạt chung cũng chịu thêm áp lực.
Vì thế, một điểm đến không nhất thiết phải đón thật đông khách trong một không gian giới hạn. Khả năng tiếp nhận của làng và nhịp sống của cư dân cần được tính đến ngay từ khi xây dựng sản phẩm.
Cách làm cũng cần bắt đầu từ bản sắc của từng nơi. Gốm Bát Tràng không giống gốm Chu Đậu hay gốm Phù Lãng. Thổ cẩm của người Thái cũng khác sản phẩm của người Mường, Gia Rai hay Chăm về nguyên liệu, màu sắc và hoa văn.
Một mô hình thành công không thể đơn giản được bê nguyên sang một làng khác. Du khách cần gặp những câu chuyện riêng của từng nghề, được kể bởi những người hiểu nghề và sống trong chính không gian ấy.
Công nghệ có thể hỗ trợ việc này bằng bản đồ số hoặc mã QR. Nhưng công nghệ không thể thay thế người kể chuyện. Người hướng dẫn vẫn cần hiểu nghề, hiểu làng và biết cách đưa những điều tưởng như nhỏ bé đến gần du khách.
Trong chuỗi giá trị đó, cộng đồng giữ một vị trí quan trọng. Nghệ nhân có thể trực tiếp hướng dẫn trải nghiệm. Hộ sản xuất có thể tham gia thiết kế sản phẩm. Người dân có thể cung cấp dịch vụ ăn uống, lưu trú và thuyết minh.
Họ cũng cần có tiếng nói khi xác định quy mô và cách khai thác điểm đến.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Lương, nguyên Phó Viện trưởng Nghiên cứu Phát triển du lịch Việt Nam, cho rằng du lịch làng nghề muốn bền vững cần chiến lược dài hạn, sự tham gia tích cực của cộng đồng, đồng thời gắn bảo tồn với lợi ích kinh tế và các mô hình du lịch xanh.
Khi người dân trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, nghề truyền thống có thêm cơ hội tạo thu nhập ngay tại nơi nó được sinh ra. Người trẻ có thêm lý do để học nghề, còn không gian văn hóa có điều kiện được duy trì.
Vì vậy, hiệu quả của du lịch làng nghề không chỉ nằm ở số lượt khách. Thời gian lưu trú và mức chi tiêu cần được nhìn cùng thu nhập của hộ làm nghề, số người trẻ muốn học nghề, khả năng truyền nghề giữa các thế hệ và mức độ nguyên vẹn của không gian cộng đồng.
Một làng nghề không nhất thiết phải trở thành một khu du lịch. Điều quan trọng hơn là tìm được cách phát triển phù hợp với đặc điểm và khả năng của từng vùng.
Khi người thợ còn sống được bằng nghề, lớp trẻ còn muốn học nghề và làng vẫn giữ được nhịp sống của mình, những chuyến đi đến làng nghề mới thực sự tạo thêm sức sống cho nơi đã sinh ra nghề.
Hoàng Lan (tổng hợp)
