Việt Nam ghi nhận kết quả tích cực về xuất khẩu hồ tiêu khi kim ngạch 7 tháng đầu năm vượt 1 tỷ USD, trong đó Mỹ, Trung Quốc và Thái Lan đều tăng lượng mua.
- Bắt tạm giam người đàn ông bị cáo buộc dâm ô bé gái ở Thái Nguyên
- Hội đồng lâm thời điều hành Iran sau cái chết của ông Khamenei
- Ông Trump nói lý do bí mật đổi máy bay khi rời Thổ Nhĩ Kỳ
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 168.429 tấn hồ tiêu, thu về 1,087 tỷ USD, tăng 16,1% về lượng và 10,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này được hỗ trợ bởi nhu cầu tại nhiều thị trường, trong đó lượng hồ tiêu xuất khẩu sang Mỹ tăng 31,8%, Trung Quốc tăng 55,8% và Thái Lan tăng 88,7%.
Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), riêng tháng 7/2026, Việt Nam xuất khẩu 22.743 tấn hồ tiêu, đạt 147,3 triệu USD, giảm lần lượt 1,6% về lượng và 2,6% về kim ngạch so với tháng trước nhưng vẫn tăng 8,8% về lượng so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 7 tháng, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất với 76.845 tấn, chiếm 45,6% tổng lượng xuất khẩu và tăng 12,3% so với cùng kỳ.
Châu Mỹ đứng thứ hai với 45.470 tấn, tăng 34% và chiếm 27% tổng lượng xuất khẩu, trong khi châu Âu đạt 36.140 tấn, tăng 7,5% và chiếm 21,5%; xuất khẩu sang châu Phi cũng tăng 10%, lên 9.964 tấn. Ở nhóm thị trường riêng lẻ, Mỹ dẫn đầu với 40.712 tấn, Trung Quốc đạt 17.110 tấn, Hà Lan đạt 6.136 tấn và Thái Lan đạt 6.913 tấn.
Đáng chú ý, mức tăng trưởng tại các thị trường này khá cao, với Mỹ tăng 31,8%, Trung Quốc tăng 55,8%, Hà Lan tăng 48,8% và Thái Lan tăng tới 88,7% so với cùng kỳ năm trước. Những con số này cho thấy xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng dù lượng xuất khẩu trong tháng 7 có sự điều chỉnh so với tháng trước.
VPSA ước tính vụ thu hoạch hồ tiêu năm 2026 của Việt Nam đạt khoảng 170.000 tấn, giảm 12,8% so với năm trước. Nguồn cung hạn chế góp phần duy trì giá hồ tiêu ở mức cao trong nửa đầu năm, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Trong ngắn hạn, VPSA dự báo giá hồ tiêu có thể ổn định nếu tình hình địa chính trị thế giới không có biến động lớn. Trường hợp căng thẳng tại Trung Đông được giải quyết, giá có khả năng tăng trở lại khi tồn kho tại các thị trường nhập khẩu giảm, trong khi nguồn cung từ những quốc gia sản xuất lớn đang ở mức thấp trong nhiều năm.
Dù triển vọng xuất khẩu vẫn tích cực, doanh nghiệp hồ tiêu đang chịu sức ép từ chi phí logistics và những bất ổn địa chính trị. Riêng tại Mỹ, mức thuế nhập khẩu 12,5% đối với hàng hóa Việt Nam có thể làm tăng chi phí, khiến các nhà nhập khẩu thận trọng hơn khi ký hợp đồng và đàm phán giá.
Về dài hạn, khả năng mở rộng diện tích trồng hồ tiêu bị giới hạn bởi quỹ đất, sự cạnh tranh với các loại cây trồng khác và yêu cầu ngày càng cao từ các thị trường nhập khẩu. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cũng khiến việc truy xuất nguồn gốc và kiểm soát vùng nguyên liệu trở thành yêu cầu quan trọng đối với doanh nghiệp.
Trong điều kiện khó gia tăng sản lượng, dư địa phát triển của ngành được kỳ vọng đến từ chất lượng, thương hiệu, chế biến sâu và nâng giá trị sản phẩm. Doanh nghiệp vì thế cần xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tăng liên kết với nông dân, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hoàn thiện truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật riêng của từng thị trường để duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn.
Minh Tuấn (tổng hợp)
