TP.HCM, các chuyên gia giáo dục và tâm lý đề xuất tăng cường rèn luyện kỹ năng ứng xử, xử lý vi phạm công bằng và phối hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội nhằm ngăn ngừa bạo lực, bảo vệ sự an toàn và tôn trọng trong môi trường học đường.
- Sản phẩm OCOP mở lối cho nông sản vùng cao Thái Nguyên
- Biểu tình tại Pháp giảm mạnh, hơn 1.300 người vẫn bị bắt
- Không còn bắt buộc họp phụ huynh 3 lần mỗi năm
Ngày 26.10.2026, những giải pháp này được đặt ra trong bối cảnh giáo dục đạo đức không chỉ dừng ở việc giúp học sinh nhận biết đúng sai mà còn phải hình thành khả năng kiểm soát cảm xúc, giải quyết bất đồng và chịu trách nhiệm về hành vi. Theo các chuyên gia, muốn phòng ngừa bạo lực hiệu quả, nhà trường cần kết hợp kỷ luật nghiêm minh với cơ chế phát hiện sớm, hỗ trợ tâm lý và xử lý đúng quy định.
GS-TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, cho rằng giáo dục đạo đức cần giúp học sinh chuyển từ nhận thức điều đúng sang thực hiện được điều đúng trong những tình huống có áp lực cảm xúc. Một học sinh có thể hiểu thế nào là tôn trọng nhưng vẫn buông lời xúc phạm khi tức giận, cho thấy khoảng cách giữa kiến thức được học và cách ứng xử thực tế.
Theo ông Sơn, việc nhắc nhở học sinh lễ phép với thầy cô chưa đủ để hình thành sự tôn trọng nếu các em chưa biết điều chỉnh cảm xúc, nhận diện giới hạn hành vi và giải quyết bất đồng. Vì vậy, năng lực cảm xúc – xã hội cần được rèn luyện thường xuyên trong giờ học, sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm và những tình huống phát sinh hằng ngày.
“Từ thực tế đó, giáo dục đạo đức cần chú trọng những năng lực cụ thể như nhận diện và gọi tên cảm xúc, tự điều chỉnh khi căng thẳng, lắng nghe quan điểm khác biệt, giải quyết mâu thuẫn không dùng bạo lực, biết tìm kiếm sự trợ giúp và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Những năng lực này phải được thực hành trong giờ học, sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm và cả quá trình giải quyết những va chạm thường ngày. Chẳng hạn, khi không đồng tình với lời nhắc nhở của giáo viên, học sinh cần được rèn cách dừng phản ứng nóng giận, diễn đạt ý kiến đúng mực, nhận diện hậu quả và lựa chọn cách ứng xử phù hợp”, ông Sơn nói.
Ở góc độ tâm lý lứa tuổi, tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh, Trường ĐH Công đoàn (Hà Nội), nhận định học sinh tuổi vị thành niên thường có nhu cầu khẳng định bản thân, được tôn trọng và đối xử công bằng, trong khi khả năng kiểm soát cảm xúc và giải quyết mâu thuẫn vẫn còn hạn chế. Áp lực học tập, căng thẳng trong gia đình và cảm giác không được lắng nghe có thể khiến các em phản ứng tiêu cực.
“Áp lực học tập, căng thẳng gia đình và việc ít được lắng nghe có thể khiến các em dễ phản ứng tiêu cực. Khi thường xuyên bị đánh giá qua điểm số, học sinh có thể xem lời phê bình của giáo viên là sự phủ nhận bản thân. Nếu gia đình cũng thường giải quyết mâu thuẫn bằng quát mắng, các em càng khó học cách bày tỏ bất đồng phù hợp”, ông Tuấn Anh phân tích.
Điều này đặt ra yêu cầu người lớn phải phân biệt giữa quyền bày tỏ ý kiến của học sinh và hành vi vượt quá giới hạn. “Học sinh có quyền thắc mắc hoặc không đồng tình với cách xử lý của giáo viên. Khi các em cảm thấy bị đối xử không công bằng, người lớn cần lắng nghe và tìm hiểu nguyên nhân. Tuy nhiên, sự bất đồng hay bức xúc không thể là lý do biện minh cho hành vi xúc phạm hoặc bạo lực với giáo viên”, chuyên gia này nói thêm.
Trong xử lý vi phạm, GS-TS Huỳnh Văn Sơn cho rằng kỷ luật chỉ có ý nghĩa giáo dục khi học sinh hiểu hành vi nào không được chấp nhận, hậu quả ra sao và cần làm gì để khắc phục. Sự nghiêm minh phải đi cùng tính nhân văn, nhưng không thể lấy lý do giáo dục để bỏ qua hành vi sai trái.
“Việc xử lý cần dựa trên chứng cứ, tương xứng với mức độ và hậu quả, lắng nghe các bên, bảo mật thông tin cần thiết, không làm nhục hay quy kết nhân cách. Sau xử lý, học sinh cần thực hiện những nhiệm vụ cụ thể để khắc phục hậu quả, học cách xin lỗi có trách nhiệm và chứng minh sự thay đổi bằng hành vi. Với trường hợp nghiêm trọng, nhà trường cần phối hợp cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật, không thay thế trách nhiệm pháp lý bằng hòa giải hình thức. Đồng thời, cần theo dõi nguy cơ tái diễn và hỗ trợ giáo viên bị xúc phạm hoặc hành hung về tinh thần, chuyên môn và quyền lợi”, ông Sơn nói.
Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật, thuộc Đoàn Luật sư TP.HCM, cho biết học sinh xúc phạm hoặc hành hung giáo viên có thể bị xử lý kỷ luật trong nhà trường. Tùy tính chất, mức độ vi phạm và độ tuổi, các em còn có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
“Giáo dục học sinh nhận lỗi và sửa sai không đồng nghĩa với bỏ qua hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Trách nhiệm của phụ huynh và nhà trường cũng phải được xác định theo từng trường hợp. Phụ huynh không đương nhiên phải chịu mọi trách nhiệm thay con; nhà trường cần xác minh vụ việc, bảo đảm an toàn cho giáo viên và phối hợp với gia đình, cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định”, luật sư Bình nói.
Bên cạnh việc giải quyết những vụ việc đã xảy ra, các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của phát hiện sớm và ngăn ngừa nguy cơ. Theo GS-TS Huỳnh Văn Sơn, những biểu hiện như học sinh liên tục có lời nói thù địch, đe dọa, bị cô lập, thường xuyên xung đột, đăng nội dung kích động trên mạng hoặc đột ngột né tránh một giáo viên cần được quan tâm, tìm hiểu trong bối cảnh cụ thể, thay vì vội vàng gán nhãn cho các em.
Ông Sơn đề xuất xây dựng cơ chế phòng ngừa theo nhiều tầng, bắt đầu từ quy tắc ứng xử rõ ràng, giáo dục cảm xúc – xã hội, truyền thông về quyền được an toàn và các kênh phản ánh dễ tiếp cận. Với trường hợp có nguy cơ đe dọa cụ thể hoặc xuất hiện hành vi bạo lực, nhà trường cần phối hợp giữa lãnh đạo, chuyên viên tâm lý, gia đình và cơ quan chức năng tùy tính chất vụ việc. “Nếu từ tầng 1 chưa đảm bảo, các nguy cơ có thể xảy ra và rất khó để có thể kiểm soát một cách chủ động”, ông Sơn nói.
Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh cũng lưu ý cách ứng phó trong thời điểm học sinh mất bình tĩnh cần ưu tiên an toàn, tránh làm tình huống căng thẳng thêm. “Khi học sinh kích động, cần ưu tiên hạ nhiệt và bảo đảm an toàn, không tranh luận đúng sai hay ép các em xin lỗi trước đám đông. Nếu xuất hiện nguy cơ gây hại, gia đình và nhà trường cần phối hợp hỗ trợ chuyên môn, không để giáo viên tự xử lý một mình”.
Trong cơ chế phòng ngừa này, trách nhiệm không thuộc riêng nhà trường. Theo GS-TS Huỳnh Văn Sơn, gia đình cần làm gương trong cách ứng xử, thiết lập giới hạn hành vi và phối hợp khi con gặp khó khăn; nhà trường phải xây dựng môi trường an toàn cùng quy trình hỗ trợ, còn xã hội, truyền thông và các nền tảng số cần hạn chế sự cổ vũ bạo lực, lan tỏa cách ứng xử có trách nhiệm.
“Sau mỗi vụ việc, bên cạnh xác định trách nhiệm, cần làm rõ những khâu phòng ngừa chưa hiệu quả để kịp thời khắc phục. Gia đình cần được thông tin sớm, chủ động phối hợp với nhà trường thực hiện kế hoạch giáo dục, hỗ trợ con và ngăn ngừa hành vi lệch chuẩn, thay vì chỉ vào cuộc khi con bị kỷ luật. Hiệu quả phòng ngừa cần được đánh giá qua mức độ an toàn của giáo viên, học sinh;
việc tiếp nhận, giải quyết phản ánh đúng hạn; khả năng hạn chế tái diễn và hỗ trợ sau can thiệp, thay vì chỉ đếm số buổi tuyên truyền hay hình thức xử lý. Mục tiêu là xây dựng môi trường học đường nơi thầy cô được tôn trọng, học sinh được giáo dục bằng kỷ cương và lòng nhân ái, còn gia đình, nhà trường cùng chủ động thực hiện trách nhiệm trước khi sự việc đáng tiếc xảy ra”, ông Sơn nói thêm.
Từ góc nhìn phụ huynh, anh Nguyễn Đại Dương, 38 tuổi, có con học tại Trường THCS Linh Trung, P.Linh Xuân, TP.HCM, cho rằng cha mẹ cần bình tĩnh tìm hiểu sự việc từ nhiều phía khi con mắc lỗi, đồng thời lắng nghe mà không bênh vực thiếu căn cứ. Nếu con vi phạm, phụ huynh cần giúp con nhận lỗi, hiểu hậu quả và có trách nhiệm sửa chữa, phối hợp với giáo viên để giải quyết vấn đề từ sớm.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
