LÂM ĐỒNG – Nghề biển tại Phan Thiết đang gặp khó khi nhiều tàu phải nằm bờ vì thiếu bạn thuyền, trong lúc ngày càng ít lao động trẻ muốn nối nghiệp cha ông.
- Vụ xô xát ở Tà Xùa: TikToker bị mời làm việc
- Đường dây cá độ 1.500 tỷ đồng/tháng lộ diện từ sóng bóng đá lậu
- Thấy người bị đánh mà không cứu: Khi đạo đức và pháp luật khác nhau
Giữa mùa cá Nam từ tháng 5 đến tháng 10, nhiều tàu tại Cảng cá Phan Thiết vẫn chưa thể xuất bến dù phương tiện còn đủ khả năng hoạt động. Nguyên nhân chủ yếu là lực lượng lao động đi biển ngày càng thiếu, trong khi công việc trên bờ mang lại thu nhập ổn định và ít rủi ro hơn.
Tại cảng cá, bên cạnh những tàu thuyền vẫn ra vào, không ít phương tiện phải neo lại nhiều ngày chờ đủ người. Có trường hợp chủ tàu từng sở hữu nhiều phương tiện nhưng buộc phải bán bớt do không thể duy trì nhân lực cho các chuyến biển.
Ông Hồ Thanh Liêm, 59 tuổi, ở tổ dân phố 11, phường Phan Thiết, đã có hơn 30 năm gắn bó với nghề biển và từng sở hữu 3 tàu công suất lớn. Hiện ông chỉ còn tàu BTh 99255TS, công suất 380CV, nhưng ngay cả phương tiện này cũng nhiều lần phải nằm bờ vì chưa gom đủ 5-6 lao động cần thiết cho mỗi chuyến.

“Về sau nghề biển càng khó, lao động cứ thế bỏ nghề rồi buộc mình phải bán bớt tàu”, ông Liêm nói. Năm 2023, ông bán một tàu và đến giữa năm 2025 tiếp tục chuyển nhượng chiếc thứ hai, trong khi chi phí cho một chuyến biển khoảng 15 ngày, riêng dầu và nhu yếu phẩm, vào khoảng 170 triệu đồng.
Theo ông Liêm, khi đánh bắt thuận lợi, chủ tàu và bạn thuyền chia theo tỷ lệ 5-5, nhưng nếu sản lượng thấp thì phần thua lỗ thường thuộc về chủ phương tiện. “Bạn thuyền đi lỗ một, hai chuyến là họ bỏ mình. Có người qua tàu khác, có người chuyển nghề luôn”, ông chia sẻ.
Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận ở trường hợp ông Nguyễn Hữu Thanh, người có hơn 35 năm đi biển và từng sở hữu 3 tàu câu khơi. Hiện ông chỉ còn một phương tiện, chủ yếu hoạt động trong vụ Nam, bởi khi hết mùa cá, bạn thuyền phải tìm việc khác và đến lúc chủ tàu muốn ra khơi trở lại thì việc tập hợp đủ người không dễ.
Thực tế này phản ánh sự thay đổi rõ rệt trong lực lượng lao động nghề biển tại Phan Thiết. Theo số liệu ngành thủy sản địa phương từng ghi nhận, khoảng năm 2005, TP Phan Thiết cũ có gần 40.000 lao động biển; khoảng 10 năm sau, số người trực tiếp bám biển đã giảm 30-40%, trong khi số lao động trên mỗi tàu cũng giảm tùy theo ngành nghề.
Sự thiếu hụt nhân lực không chỉ đến từ những lao động đã bỏ nghề mà còn thể hiện ở việc lớp trẻ ngày càng ít lựa chọn đi biển. Ông Nguyễn Văn Tèo có 4 người con nhưng 3 con trai đều không theo nghề của cha, trong đó một người làm công nhân bốc xếp và hai người làm phục vụ du lịch.

Ông Tèo không hướng các con theo nghề biển vì hiểu rõ những hiểm nguy mà công việc này mang lại. “Những đêm gió bấc thổi mạnh, nhiều lần bị sóng đánh phủ, úp thúng. May nhờ anh em cùng nghề lật thúng cứu. Mấy lần thoát chết rồi nên tôi cũng không hướng các con theo nghề”, ông kể.
Với những người từng đi biển rồi chuyển lên bờ, thu nhập thiếu ổn định cũng là một lý do quan trọng. Anh Đặng Văn Trường bắt đầu theo ghe từ năm 15 tuổi, có chuyến biển kéo dài gần một tháng giúp anh kiếm hơn chục triệu đồng, nhưng khi thời tiết xấu, tàu nằm bờ thì người lao động cũng không có thu nhập.
Sau đó, Trường chuyển sang làm bốc xếp cho một đại lý bia dù có tháng thu nhập thấp hơn trước. Đổi lại, công việc trên bờ đem đến khoản tiền tương đối ổn định và giúp anh giảm sự phụ thuộc vào kết quả của từng chuyến biển.
Tại tổ dân phố 11, phường Phan Thiết, nơi có 1.119 hộ và phần lớn người dân gắn với nghề biển cùng các dịch vụ liên quan, sự dịch chuyển lao động cũng ngày càng rõ. Bà Vũ Thị Lài, tổ trưởng tổ dân phố, cho biết nhiều người từng chỉ làm nghề biển nay đã chuyển lên bờ, đàn ông làm phụ hồ hoặc lao động chân tay, còn phụ nữ tìm việc tại các cơ sở và vựa thanh long.
“Nghề biển vì thế ngày càng mai một. Số tàu ghe cũng ngày càng giảm đi”, bà Lài nói. Khi người trẻ không còn muốn theo nghề, vấn đề đặt ra không chỉ là thiếu người cho một chuyến biển mà còn là nguy cơ đứt gãy quá trình truyền nghề giữa các thế hệ.
Ông Huỳnh Quang Huy, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Bình Thuận cũ, nhận định tuổi nghề của lao động biển đang có xu hướng ngắn hơn. Theo ông, trên nhiều chuyến biển hiện nay chủ yếu là thanh niên 18-20 tuổi; nếu tiếp tục gắn bó, họ cũng chỉ có khoảng 10-15 năm làm nghề, trong khi ngày càng ít gia đình muốn con em mình nối nghiệp đi biển.
Bài toán nhân lực càng khó khi nghề biển phải đối mặt với điều kiện làm việc nặng nhọc, nguy hiểm và thu nhập phụ thuộc vào con nước, thời tiết cùng sản lượng đánh bắt. Trong khi đó, việc làm trên bờ có thể đem lại thu nhập thấp hơn nhưng đều đặn, ít rủi ro và giúp người lao động chủ động hơn trong cuộc sống.
Một điểm khác được ông Huy lưu ý là phần lớn thuyền viên chưa có hợp đồng ràng buộc với chủ tàu. Khi biển thuận lợi, nguồn cá dồi dào, lao động có thể tập trung đông, nhưng khi biển động hoặc hiệu quả khai thác giảm, chủ tàu lại khó tìm đủ bạn thuyền.

Theo ông Huy, bên cạnh việc hiện đại hóa nghề cá, cần quan tâm đến thu nhập, chế độ đãi ngộ, hợp đồng, bảo hiểm và điều kiện an toàn cho thuyền viên. Đây là những yếu tố có ý nghĩa trong việc duy trì lực lượng lao động, nhất là khi nghề biển ngày càng khó cạnh tranh với các công việc trên bờ.
Rủi ro của nghề biển cũng được nhắc lại qua vụ tàu BTh 97478 TS chìm tại vùng biển Trường Sa – DK1 vào tháng 7/2022, khiến 6 người thiệt mạng. Trong số 15 người trên tàu khi xảy ra sự việc, có 4 người thuộc gia đình ông Nguyễn Thanh Là ở phường Bình Thuận, tỉnh Lâm Đồng, nhưng chỉ 2 người trở về.
Gần 50 năm gắn bó với biển, ông Là vẫn tiếp tục đi biển dù hiểu rõ những hiểm nguy của công việc. “Biển không cho mình giàu có, dư giả, nhưng cho mình niềm vui được bám biển, được hòa vào tiếng sóng quê hương”, ông nói.
Tuy nhiên, sự gắn bó như ông Là không còn dễ tìm thấy ở thế hệ trẻ. Mùa cá Nam vẫn diễn ra, tàu vẫn cập cảng và ngư trường vẫn còn đó, nhưng những phương tiện nằm bờ vì thiếu bạn thuyền đang cho thấy nghề biển Phan Thiết không chỉ cần giữ tàu mà trước hết phải tìm cách giữ người.
Khi người trẻ tiếp tục chọn việc trên bờ, khoảng trống lao động trên những con tàu sẽ ngày càng rõ hơn. Việc duy trì nghề biển vì thế không chỉ phụ thuộc vào phương tiện hay nguồn lợi thủy sản, mà còn ở khả năng tạo điều kiện để người lao động yên tâm gắn bó và để nghề được tiếp nối qua các thế hệ.
Nguyễn Liên (tổng hợp)
