Việt Nam đang mở rộng đào tạo nhân lực bán dẫn, nhưng các cơ sở giáo dục vẫn phải giải quyết khoảng cách về số lượng, chất lượng và mức độ gắn kết với sản xuất.
- Festival Trà Quốc tế Thái Nguyên 2026 hoàn thiện những khâu cuối
- Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn bị bắt: Hé lộ vốn Việt Mỹ tăng 17 lần
- Fedorov cân nhắc tranh cử tổng thống Ukraine
Nhu cầu nhân lực bán dẫn được dự báo tăng mạnh trong những năm tới, trong khi nguồn cung hiện mới đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thực tế. Để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam cần ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên vào năm 2030, cùng đội ngũ có khả năng làm việc từ thiết kế, chế tạo đến đóng gói và kiểm thử.
Nhân lực giữ vai trò quan trọng trong năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ khoa học-công nghệ, đặc biệt với bán dẫn, lĩnh vực nền tảng cho trí tuệ nhân tạo (AI), internet vạn vật, tự động hóa, điện tử y sinh và quốc phòng. Tuy nhiên, số người được đào tạo chuyên sâu còn ít, trong khi chương trình học tại một số khâu của chuỗi giá trị chưa theo kịp yêu cầu sản xuất.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Hiệu trưởng Trường đại học Bách khoa (Đại học Đà Nẵng), cho rằng khó khăn hiện nay không chỉ nằm ở số lượng mà còn ở chất lượng nhân lực, nhất là những người có thể tham gia toàn bộ chuỗi giá trị. Khoảng cách này liên quan đến việc thiếu giảng viên giàu kinh nghiệm thực tiễn và cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại phục vụ đào tạo.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), chỉ ra một khoảng trống khác là đội ngũ giảng viên có trình độ quốc tế để dẫn dắt đào tạo và nghiên cứu. Bán dẫn đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về thiết kế vi mạch, công nghệ chế tạo và vật liệu mới, đồng thời phải gắn với sản xuất và nghiên cứu tiên phong trên thế giới.
Mức thu nhập cũng tạo thêm khoảng cách trong việc thu hút nhân lực chất lượng cao. Theo bài viết, thu nhập của giáo sư, nhà khoa học trong hệ thống công lập ở Việt Nam hiện chỉ khoảng 500-800USD/tháng, trong khi mức này khoảng 7.000USD tại Singapore, 5.000USD tại Hàn Quốc và khoảng 12.000USD/tháng tại Đức và Hoa Kỳ.
Trong đào tạo, sự chênh lệch giữa các công đoạn của chuỗi giá trị cũng đã được nhận diện. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tấn Trần Minh Khang, Hiệu trưởng Trường đại học Công nghệ thông tin (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), cho biết ở khâu thiết kế chip, khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu công nghiệp đã được thu hẹp đáng kể, nhưng chế tạo, đóng gói và kiểm tra vẫn thiên về lý thuyết và chưa gắn chặt với doanh nghiệp.
Dự báo 5 năm tới, Việt Nam sẽ cần từ 20.000 đến 50.000 kỹ sư vi mạch và bán dẫn, khiến yêu cầu thay đổi cách đào tạo trở nên rõ hơn. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Đăng, Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên), cho rằng mỗi cơ sở đào tạo cần chọn hướng đi và lĩnh vực ưu tiên dựa trên lợi thế của mình, thay vì tiếp tục vận hành theo mô hình tuyến tính, khép kín.
Một hướng được đặt ra là các trường đại học hợp tác thực chất với tập đoàn công nghệ, cùng xây dựng chương trình, đưa sinh viên vào môi trường thực tập tại nhà máy và xác định chuẩn đầu ra theo yêu cầu doanh nghiệp. Giáo trình cũng cần được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời sinh viên và giảng viên có cơ hội tham gia trực tiếp các bài toán công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tế.
Tại Trường đại học Khoa học (Đại học Thái Nguyên), chương trình đào tạo được định hướng theo nhu cầu nhân lực của các tổ hợp công nghiệp lớn trong khu vực, trong đó có dự án sản xuất module đúc sẵn trị giá 260 triệu USD của Tập đoàn Sunny Opotech tại Thái Nguyên và hệ sinh thái sản xuất của Tập đoàn Samsung tại Việt Nam. Cách tiếp cận này giúp nội dung đào tạo được cập nhật theo thực tiễn và hướng tới nguồn nhân lực có thể tham gia các dây chuyền công nghệ cao.
Tại Trường đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (HUTECH), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Mỹ Hà, Trưởng Khoa Điện-Điện tử, cho biết nhà trường đào tạo nhiều công đoạn trong chuỗi giá trị bán dẫn, từ thiết kế vi mạch đến kiểm thử và đóng gói chip. Mạng lưới hợp tác với hơn 1.600 doanh nghiệp được triển khai qua chuyên đề doanh nghiệp, kiến tập, thực tập, nghiên cứu, tài trợ thiết bị và phần mềm cùng các cuộc thi học thuật.
Những hoạt động này đưa sinh viên đến gần hơn với môi trường sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để chương trình đào tạo phản ánh yêu cầu của doanh nghiệp. Khoảng cách giữa giảng đường và nhà máy vì thế không chỉ được nhìn nhận như một vấn đề mà còn được xử lý bằng những mô hình hợp tác cụ thể.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Quỳnh, Trưởng khoa Khoa học Vật liệu tiên tiến và Công nghệ Nano (Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội), cho rằng đại học cần đồng thời thực hiện vai trò đào tạo, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Mô hình “Nhà nước-Nhà trường-Doanh nghiệp-Viện nghiên cứu” được đặt ra để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào xây dựng chương trình, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Như Khoa, Hiệu trưởng Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên), cho biết Nhà nước cần triển khai cơ chế đặt hàng đào tạo với tiêu chí quản lý chặt chẽ chất lượng đầu ra, bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ kết quả, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”.
Từ nhu cầu nhân lực đang tăng đến những khoảng trống trong đào tạo, bài toán của ngành bán dẫn không chỉ là đào tạo thêm người học. Điều cần được giải quyết đồng thời là chất lượng giảng viên, thiết bị, chương trình, liên kết doanh nghiệp và khả năng đưa người học đến gần hơn với những công việc thực tế của chuỗi giá trị bán dẫn.
Minh Tuấn (tổng hợp)
