Đền Vạn Chài, nơi thờ Tứ vị Thánh Nương, vẫn giữ những dấu tích tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của cư dân miền biển qua nhiều thế hệ.
- Cơ hội nghề nghiệp mở thêm cho sinh viên Đại học Thái Nguyên
- Hồ Thị Hường và hành trình từ ba lon gạo đến bình yên tuổi 68 ở Nam Đàn
- Động đất 7,7 độ làm rung chuyển đảo Flores, Indonesia
Men theo con đường nhỏ ven biển ở khu 1, Đền Vạn Chài nằm tựa vào chân núi Đầu Vái, thuộc trung tâm dãy núi Chín Rồng, với núi và biển ở cận kề. Công trình được xây dựng vào giữa thế kỷ XIX để thờ Tứ vị Thánh Nương, những vị thần nữ được cư dân đi biển tôn thờ và cầu mong che chở.
Theo nội dung bài gốc, Đền Vạn Chài thuộc phường Đồ Sơn, TP. Hải Phòng; phần chú thích ảnh xác định di tích ở phường Vạn Hương, quận Đồ Sơn. Vị trí của đền được xem là có thế đất phong thủy, nằm tại khu vực được ví như linh địa đầu chim phượng, giữa cảnh sắc biển và núi.
Đền được dựng vào giữa thế kỷ XIX, gắn với đời sống của những cư dân làm nghề đánh bắt hải sản trên biển. Đến năm 1934, khi thực dân Pháp xây dựng pháo đài tại khu vực có đình tọa lạc, công trình được di dời về Vạn Thốc.
Nằm ở cửa biển, thường xuyên chịu tác động của khí hậu khắc nghiệt, di tích dần xuống cấp và trải qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo. Năm 1992, Đền Vạn Chài được trùng tu, sửa chữa, việc phụng thờ được khôi phục và hoạt động tín ngưỡng tại đây dần trở lại như trước.

(Ảnh minh họa: TNM)
Trong ký ức của người dân địa phương, ngôi đền còn gắn với những câu chuyện về đời sống cư dân miền biển. Truyền tụng kể rằng sau khi đền được dựng, người dân Vạn Chài có ba năm liên tiếp được mùa đánh bắt, cá từng đàn về kín bến Vạn Thốc.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, địa điểm này còn được sử dụng cho hoạt động của lực lượng Việt Minh, làm nơi hội họp, học tập và tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng. Có thời điểm, đền cũng là nơi mở lớp bình dân học vụ cho con em cư dân miền biển.
Sau nhiều lần sửa chữa, công trình hiện có mặt bằng kiến trúc theo kiểu chữ Tam, gồm ba gian tiền đường, ba gian trung đường và ba gian hậu cung. Tòa tiền đường có bốn bộ vì theo kiểu bốn hàng chân cột, các cột được kê trên những chân tảng đá xanh cổ, còn các kiện gỗ được chạm khắc những đề tài truyền thống như lá lật, hoa lá thiêng.
Khuôn viên hiện nay khá thoáng, với núi và biển bao quanh, trong đó năm cây gạo cổ thụ đứng quanh khu vực trung tâm ngôi đền. Mùa hè, những cành cây lớn vươn dài, tán lá xum xuê tạo bóng mát cho không gian di tích.
Theo lời kể của các bậc cao niên, năm cây gạo đã có trên 100 tuổi và được gắn với ý nghĩa về một loại ngũ cốc nuôi sống con người. Với cư dân miền biển, hình ảnh những cây gạo còn gửi gắm mong ước Quốc Mẫu Vua Bà phù hộ cho cuộc sống sinh sôi, phát triển và thịnh vượng.
Đền Vạn Chài gắn với cư dân Vạn Hương xưa, vốn chủ yếu sống bằng nghề chài lưới và đánh bắt hải sản, trong khi một bộ phận nhỏ làm ruộng, trồng trọt và khai thác vườn đồi. Cư dân nơi đây đến từ nhiều vùng khác nhau, còn các vạn chài duy trì sự gắn kết bằng những cuộc họp mặt được tổ chức vào bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh Nương cũng xuất hiện ở nhiều làng Việt ven biển từ Bắc vào Nam và tại một số làng ven những con sông lớn nằm sâu trong đồng bằng. Tại Đền Chài, đứng đầu Tứ vị Thánh Nương là Thánh Mẫu Càn Hải Đại Vương, được người dân coi là vị thần nữ ở cửa sông, biển.
Thần tích về Tứ vị Thánh Nương có nhiều dị bản, trong đó câu chuyện phổ biến kể về biến cố của nhà Nam Tống vào cuối thế kỷ XIII. Năm 1276, quân Mông Cổ tấn công và đánh tan nhà Nam Tống; đến tháng 1.1279, quân Nguyên – Mông tiến tới căn cứ cuối cùng của triều đại này.
Trong lúc chạy về phía Quảng Đông, Thái hậu cùng ba công chúa gặp gió mạnh khiến thuyền bị đắm. Theo thần tích, một con rồng vàng xuất hiện, đưa Mẫu hậu và ba vị công chúa trôi đến biển Cờn Hải, sau đó họ được một vị sư già ở chùa Quy Sơn cứu và cho trú ngụ.
Về sau, những lời dị nghị về Thái hậu và vị sư già xuất hiện, khiến vị sư không thể giãi bày và nhảy xuống biển tự vẫn. Thái hậu cùng ba công chúa cũng xuống biển, sau đó thi thể của họ trôi vào cửa Cờn Hải và được người dân lập đền thờ.

(Ảnh minh họa: TNM)
Theo truyền thuyết, Tứ vị Thánh Nương sau đó hiển linh và được phong là “Nam Hải Phúc Thần”, cai quản 12 cửa biển. Người đi biển tìm đến cầu đảo và tin rằng các vị thần nữ đã trợ giúp mình trong những chuyến đi trên biển.
Thần tích cũng kể rằng vua Trần Anh Tông và Lê Thánh Tông khi chinh phạt giặc Chiêm ở phương Nam bằng đường biển đã được Tứ vị Thánh Nương hiển linh trợ giúp. Sau khi chiến thắng trở về, các vua Đại Việt tạ lễ và phong sắc cho thần là “Quốc Mẫu Tứ vị Thánh Nương Thượng đẳng thần”.
Bên cạnh giá trị tín ngưỡng, Đền Vạn Chài từng là nơi diễn ra lễ hội có quy mô lớn của cư dân miền biển. Trước năm 1945, từ ngày 19 đến 21 tháng Giêng hằng năm, người dân địa phương tổ chức hội lễ với nhiều nghi thức như rước nước, rước kiệu xuống thuyền, ra biển theo hướng Cát Bà lấy nước rồi trở về đền làm lễ mộc dục.
Lễ rước khi đó có kiệu bát cống và kiệu võng Đức Thánh Mẫu đặt khám trên kiệu, với trai tân khiêng kiệu bát cống và nữ đồng trinh khiêng kiệu Thánh Mẫu. Phẩm lễ gồm thịt lợn, gà, xôi; đồ mã có thuyền rồng và các linh vật, cùng nghi thức phóng sinh tôm, cá.
Sau phần tế lễ, hội còn có các trò chơi và cuộc thi dân gian, nổi bật là thi bơi thuyền rồng giữa các giáp trong làng và những vạn chài khác. Mỗi thuyền có 36 mái chèo cùng bốn người chỉ huy, khiến hội thi bơi thuyền rồng tại Đền Chài từng trở thành một trong những hoạt động đông vui, có quy mô lớn ở vùng Đồ Sơn.
Trải qua thời gian, hai cuộc chiến tranh và điều kiện khắc nghiệt của vùng cửa biển khiến di tích nhiều lần xuống cấp. Việc trùng tu năm 1992 cùng quá trình khôi phục hoạt động phụng thờ đã tạo cơ sở để những giá trị tín ngưỡng, kiến trúc và sinh hoạt cộng đồng tại Đền Vạn Chài tiếp tục được duy trì.
Ngày nay, người dân địa phương đang từng bước khôi phục những nét sinh hoạt văn hóa và hội lễ truyền thống từng gắn với đời sống cư dân miền biển. Những hoạt động này hướng tới việc kế thừa, phát huy giá trị văn hóa của di tích và đáp ứng nhu cầu tham quan, chiêm bái của du khách trong và ngoài nước.
Nguyên Hương (tổng hợp)
