Từ những đồi chè Tân Cương, La Bằng đến phiên chợ Trại Cài và rừng chè Shan tuyết cổ thụ, mỗi vùng đất ở Thái Nguyên đang góp phần gìn giữ tri thức trồng, chế biến chè, lan tỏa giá trị văn hóa trà.
- Đêm hội thưởng trà ở Thái Nguyên sẵn sàng kết nối tinh hoa văn hóa
- Vàng hồi lên gần 3.950 USD, nhưng tín hiệu tạo đáy vẫn chưa rõ
- Máy giặt cắm điện cả ngày có nguy hiểm? 4 lưu ý không nên bỏ qua
Mỗi vùng chè ở Thái Nguyên mang trong mình một câu chuyện riêng, gắn với lịch sử khai phá, kinh nghiệm sản xuất và những nét văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy đang được kết nối, phát huy thông qua Festival Trà quốc tế Thái Nguyên 2026, mở ra cơ hội quảng bá thương hiệu trà và phát triển du lịch trải nghiệm.
Từ dấu ấn “Đệ nhất danh trà” đến những vùng chè mang bản sắc riêng
Trong hành trình khám phá Ngũ đại danh trà, Tân Cương là địa danh gắn với dấu mốc khởi nguồn danh tiếng chè Thái Nguyên. Đầu những năm 1920, khi vùng đất này còn hoang vu, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, cụ Vũ Văn Hiệt, thường gọi là Đội Năm, quê Hưng Yên, đã mang hạt giống chè từ Phú Thọ về trồng tại xóm Guộc rồi nhân rộng ra các thôn, xóm. Từ những nương chè ban đầu, cây chè dần trở thành cây trồng chủ lực, góp phần thay đổi đời sống người dân địa phương.
Năm 1935, sản phẩm chè mang tên “Con Hạc” của Tân Cương giành giải nhất tại cuộc thi Đấu xảo Hà Nội. Thành tích này góp phần đưa danh tiếng vùng chè lan rộng, đặt nền móng cho thương hiệu “Đệ nhất danh trà”.

Hiện xã Tân Cương có gần 660ha chè, trong đó 185ha đạt chứng nhận VietGAP, 15ha đạt chứng nhận hữu cơ và hơn 50ha được cấp mã số vùng trồng. Địa phương có 24 sản phẩm OCOP đạt từ 3-5 sao.
Ông Đồng Đức Phương, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Cương cho biết, cùng với phát triển sản xuất, địa phương đang khai thác cảnh quan đồi chè và văn hóa thưởng trà để phát triển du lịch cộng đồng. Hơn 150 cơ sở sản xuất, chế biến chè đã đầu tư máy móc hiện đại; 6 điểm du lịch cộng đồng được hình thành, tạo điều kiện để du khách tham quan vùng nguyên liệu, tìm hiểu quy trình chế biến và thưởng thức trà ngay tại nơi sản xuất.
Nếu Tân Cương nổi tiếng với dấu mốc lịch sử, La Bằng lại lưu giữ những giống chè trung du cổ được bảo tồn qua nhiều thế hệ. Dưới chân dãy Tam Đảo, người dân vẫn gìn giữ giống chè tím, chè tía bản địa. Địa phương hiện duy trì gần 60ha chè trung du, trong đó nhiều diện tích được chăm sóc và chế biến theo phương thức truyền thống.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh chè tại La Bằng có sự tham gia của 10 hợp tác xã, 28 tổ hợp tác sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và khoảng 160 cơ sở chế biến, kinh doanh chè nhỏ lẻ. Đáng chú ý, vùng chè cổ trên núi Tam Đảo còn khoảng 22 cây chè cổ. UBND xã đã phối hợp với Hợp tác xã Chè La Bằng và Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên xác định, đánh dấu các cây chè cổ thuộc địa phận xã.
Theo ông Hoàng Hải An, Chủ tịch UBND xã La Bằng, địa phương đang hướng tới phát triển du lịch trải nghiệm tại các vùng chè. Du khách có thể tham quan đồi chè, tìm hiểu quy trình trồng, thu hái, chế biến và thưởng thức trà. Qua đó, người tiêu dùng có thêm cơ hội hiểu về vùng đất, con người cũng như giá trị của sản phẩm chè địa phương.
Tại Trại Cài, xã Đồng Hỷ, câu chuyện văn hóa trà được lưu giữ qua phiên chợ chè truyền thống đã hình thành hơn 30 năm. Chợ thường họp từ sáng sớm, khi sương chưa tan, người mua bán đã tấp nập cân đo, trao đổi hàng hóa. Chỉ trong hơn 3 giờ mỗi phiên, hàng chục tấn chè khô được giao dịch, theo chân tiểu thương đến nhiều tỉnh, thành phố.
Cùng với phương thức mua bán truyền thống, người làm chè ở Trại Cài đang từng bước ứng dụng công nghệ số vào kinh doanh. Các video ghi lại quá trình chăm sóc, chế biến giúp khách hàng hiểu rõ hơn về sản phẩm; hoạt động livestream thẩm trà tạo điều kiện để người mua trực tiếp cảm nhận chất lượng trước khi đặt hàng. Nhờ cách làm này, lượng chè tiêu thụ tăng gấp 2-3 lần so với trước đây, việc giao dịch và vận chuyển cũng thuận tiện hơn.
Ông Nguyễn Hữu Tùng, Chủ tịch UBND xã Đồng Hỷ cho biết, địa phương hiện có 1.045ha chè, sản lượng trên 13.000 tấn chè búp tươi mỗi năm. Đến năm 2030, xã phấn đấu nâng sản lượng lên hơn 14.200 tấn/năm, đưa diện tích chè đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ và được cấp mã số vùng trồng lên 70%. Cùng với đó, địa phương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ sản phẩm.

Ở vùng chè Khe Cốc, xã Vô Tranh, cây chè gắn với hành trình khai hoang, lập nghiệp và chuyển đổi sang sản xuất xanh. Khoảng giữa thập niên 1970, những gia đình từ Phú Xuyên (Hà Nội) cùng đồng bào địa phương đến đây xây dựng vùng kinh tế mới, từng bước gây dựng nương chè trên những triền đồi.
Từ diện tích ban đầu, vùng nguyên liệu Khe Cốc được mở rộng lên hơn 300ha. Năm 1998, nơi đây được lựa chọn xây dựng mô hình sản xuất chè hữu cơ với sự tham gia của Hội Làm vườn Việt Nam và Tổ chức ORION của Thụy Điển, trở thành một trong những mô hình sản xuất chè hữu cơ sớm tại Việt Nam.
Ông Tô Văn Khiêm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Chè An toàn Khe Cốc cho biết, gần 10 năm qua, hợp tác xã đã chuyển sang các giải pháp canh tác thân thiện với môi trường. Đến nay, đơn vị có trên 100ha chè, trong đó 20ha chè hữu cơ và hơn 80ha chè VietGAP. Sản phẩm đã có mặt tại nhiều tỉnh, thành phố trong nước và một số thị trường quốc tế. Từ vùng kinh tế mới năm xưa, Khe Cốc đang tiếp tục phát triển theo hướng bền vững, lấy chất lượng và sản xuất xanh làm nền tảng nâng cao giá trị cây chè.
Một sắc thái khác của văn hóa trà Thái Nguyên được lưu giữ tại xã Đồng Phúc, nơi có vùng chè Shan tuyết Bằng Phúc. Giữa những sườn núi cao, các cây chè cổ thụ thân lớn, cành phủ rêu đã gắn bó với đời sống đồng bào Dao qua nhiều thế hệ. Địa phương hiện có gần 800 cây chè Shan tuyết cổ thụ, trong đó 12 cây được công nhận là Cây di sản Việt Nam. Đây không chỉ là nguồn gen quý mà còn lưu giữ tri thức canh tác truyền thống và dấu ấn văn hóa của cộng đồng vùng cao.
Ông Triệu Quang Hùng, Chủ tịch UBND xã Đồng Phúc kỳ vọng Festival Trà quốc tế Thái Nguyên 2026 sẽ góp phần nâng tầm thương hiệu trà Shan tuyết Bằng Phúc, kết nối doanh nghiệp, hộ kinh doanh và mở rộng thị trường. Địa phương hướng tới phát triển các sản phẩm trà quýt, hồng trà, nghiên cứu sản xuất theo hướng hữu cơ và gắn vùng chè với du lịch trải nghiệm nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.
Theo thống kê, toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có gần 24.000ha chè, sản lượng ước đạt 285.000 tấn chè búp tươi mỗi năm. Diện tích chè sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ đạt gần 6.700ha. Không gian văn hóa trà được xác định tại 5 khu vực đặc trưng gồm Tân Cương, La Bằng, Đồng Hỷ, Vô Tranh và Đồng Phúc, làm cơ sở phát triển thương hiệu, du lịch sinh thái và quảng bá văn hóa trà.
Đặc biệt, ngày 27/10/2026, “Tri thức trồng và chế biến chè Thái Nguyên” được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình tri thức dân gian. Đây là sự ghi nhận đối với giá trị của nghề chè và những tri thức được cộng đồng gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ.
Bà Hà Thị Bích Hồng, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên cho biết, Festival Trà quốc tế Thái Nguyên 2026 chú trọng phát huy vai trò của người trồng chè, nghệ nhân và cộng đồng trong gìn giữ, lan tỏa văn hóa trà. Thông qua các hoạt động tại vùng chè, du khách có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nghề sản xuất chè, nghệ thuật thưởng trà và bản sắc văn hóa địa phương.
Từ những đồi chè Tân Cương, La Bằng đến phiên chợ Trại Cài, vùng chè hữu cơ Khe Cốc và những cây Shan tuyết cổ thụ ở Đồng Phúc, mỗi địa danh đều lưu giữ một phần ký ức, tri thức và bản sắc của vùng đất Thái Nguyên. Việc kết nối các giá trị ấy không chỉ góp phần bảo tồn di sản mà còn mở ra hướng phát triển du lịch, nâng cao giá trị sản phẩm và đưa hương trà Thái Nguyên đến gần hơn với bạn bè trong nước, quốc tế.
Thiên An (tổng hợp)
