Vi khuẩn đa kháng thuốc đang thu hẹp lựa chọn điều trị của bác sĩ

HÀ NỘI – Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn vừa tổ chức hội thảo quốc tế về chiến lược điều trị vi khuẩn kháng kháng sinh, quy tụ các chuyên gia trong và ngoài nước trước thực trạng kháng sinh mới không theo kịp tốc độ tiến hóa của vi khuẩn.

Tại các khoa hồi sức, cấp cứu và điều trị tích cực, bác sĩ ngày càng phải đối mặt với những chủng vi khuẩn mà nhiều loại kháng sinh thông thường không còn kiểm soát được. Lựa chọn kháng sinh giờ đây phải dựa vào kết quả xét nghiệm, dữ liệu lâm sàng và đặc điểm riêng của từng bệnh nhân – không còn chỗ cho phác đồ kinh nghiệm thuần túy.

TS.BS Nguyễn Đình Hưng, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội, xác định kháng kháng sinh không còn là vấn đề riêng của Việt Nam. Ông yêu cầu các bệnh viện liên tục cập nhật bằng chứng khoa học, kiểm soát chặt việc sử dụng kháng sinh và tăng cường ngăn ngừa lây nhiễm trong cơ sở điều trị.

“Cuộc chiến chống vi khuẩn kháng thuốc không còn là câu chuyện của riêng bác sĩ truyền nhiễm hay vi sinh, mà là bài toán của toàn bộ hệ thống bệnh viện”, TS Hưng nhấn mạnh.

Với bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng do các chủng sinh enzyme MBL – cơ chế giúp vi khuẩn vô hiệu hóa nhiều nhóm kháng sinh cùng lúc – mỗi giờ chậm trễ trong việc xác định phác đồ đúng đều có thể thu hẹp cơ hội sống sót. TS.BS Nguyễn Đức Long, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, nhận định yếu tố quyết định chất lượng điều trị hiện nay là chọn đúng phác đồ ngay từ đầu và dùng hiệu quả nguồn lực hiện có, không phải sở hữu nhiều kỹ thuật hay thuốc mới.

TS.BS Nguyễn Đức Long, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn phát biểu tại hội thảo về chiến lược điều trị vi khuẩn đa kháng thuốc trong bệnh viện. (Ảnh minh họa: TNM).

Gánh nặng tài chính đi kèm không nhỏ. Bà Nguyễn Thị Tám, đại diện Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội, cho biết năm 2025, đơn vị đã chi trả cho hơn 14 triệu lượt khám chữa bệnh với tổng kinh phí gần 37.000 tỷ đồng – trong đó riêng kháng sinh chiếm gần 2.100 tỷ đồng, tương đương 16,8% tổng chi phí thuốc, chỉ đứng sau thuốc điều trị ung thư. Mỗi chỉ định không hợp lý vừa đẩy chi phí lên, vừa kéo dài ngày nằm viện và góp phần tạo ra thêm chủng vi khuẩn kháng thuốc.

Ông Nguyễn Hải Nam, giảng viên Đại học Dược Hà Nội, nhắc lại cảnh báo của giới khoa học quốc tế: nếu trong khoảng 20 năm tới nhân loại không tạo ra được các thế hệ kháng sinh hoàn toàn mới với cơ chế tác động khác biệt, việc điều trị nhiễm khuẩn sẽ ngày càng bế tắc. Tốc độ nghiên cứu vẫn chậm hơn nhiều so với tốc độ tiến hóa của vi khuẩn.

“Đây là một cuộc đua mà vi khuẩn gần như luôn chạy trước”, ông Nam nhận định.

Trong khoảng lặng đó, hội thảo đi đến một đồng thuận thực tế: chiến lược khả thi nhất hiện nay là vừa tìm kiếm cơ chế kháng sinh mới, vừa tối ưu những kháng sinh đang có theo nguyên tắc đúng thuốc, đúng thời điểm, đúng liều và đúng thời gian. Bốn trụ cột được thống nhất gồm chẩn đoán sớm, lựa chọn kháng sinh tối ưu, điều trị đa chuyên khoa và kiểm soát lây nhiễm trong bệnh viện.

Nhân viên y tế chăm sóc người bệnh điều trị tích cực tại bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn. (Ảnh minh họa: TNM).

Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn cũng giới thiệu hai công cụ AI tại hội thảo: ADRChecker-SP phát hiện sớm các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc, và DeepMedSP-AI hỗ trợ kê đơn, theo dõi và giám sát sử dụng kháng sinh ở bệnh nhân nhiễm khuẩn. Các chuyên gia xác định AI chỉ đóng vai trò công cụ phân tích, còn quyết định điều trị vẫn thuộc về bác sĩ – nhưng khả năng rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu và giảm nguy cơ bỏ sót thông tin quan trọng là điều hệ thống y tế đang cần.

Trường Anh (tổng hợp)